Notice: Undefined variable: siteurl in /home/triennd/public_html/modules/news/Print.php on line 98
Thứ sáu, 24.06.2011 GMT+7

Bàn về một số đổi mới cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính tại Việt Nam hiện nay

Thời gian qua, cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính của nước ta đã có nhiều đổi mới, bằng hoạt động giải quyết các khiếu kiện hành chính, Toà án án đã góp phần tích cực bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay, số lượng đơn khởi kiện hành chính được gửi đến Toà án và được thụ lý giải quyết, thi hành trên thực tế còn ít, trong khi đó số lượng đơn khiếu nại gửi đến các cơ quan hành chính vẫn còn nhiều.


Thực tế này đã đặt ra nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn cần nghiên cứu như: đâu là nguyên nhân của tình trạng trên và chúng ta cần làm gì để khắc phục? Dưới góc độ lý luận, thực tiễn trong quá trình giải quyết các khiếu kiện hành chính, bài viết này sẽ tổng kết một số nội dung cơ bản về quá trình đổi mới, phân tích một số tồn tại, đề xuất một số giải pháp tiếp tục đổi mới nhằm hoàn thiện cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính của nước ta hiện nay.

1. Một số nội dung cơ bản về quá trình hình thành và đổi mới cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính tại Việt Nam

Cơ sở, quá trình hình thành và đổi mới cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính tại Việt Nam đã dược nhiều nhà khoa học, chuyên gia pháp luật nghiên cứu, tổng kết tương đối toàn diện như về thẩm quyền, trách nhiệm, trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết; điều kiện khởi kiện, quyền và nghĩa vụ của người khiếu kiện và những đổi mới về các hoạt động bổ trợ tư pháp như sự tham gia của luật sư, tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý… Ở đây, chúng tôi xin chỉ phân tích một số đổi mới cơ bản, ảnh hưởng lớn đến việc đảm bảo quyền khiếu nại, khiếu kiện của người dân, cụ thể như sau:

Một là, từ mô hình “Bộ trưởng - Quan Tòa” đến việc thiết lập hệ thống Toà hành chính

Thực tiễn nhu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam từ những năm đầu cảu thập kỷ 90, thế kỷ XX đã đặt ra vấn đề cần phải có một cơ chế kiểm soát hữu hiệu hoạt động của cơ quan nhà nước và nhân viên nhà nước trong quá trình quản lý, điều hành xã hội, khắc phục những biểu hiện cửa quyền, lạm quyền, lộng quyền hoặc trốn tránh trách nhiệm. Nội dung này chính là cơ chế kiểm tra, giám sát, giải quyết khiếu nại hành chính và giải quyết các tranh chấp hành chính bằng con đường tư pháp. Theo đó, Tòa án có thẩm quyền phán quyết tính hợp pháp hoặc bất hợp pháp của quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính của cơ quan nhà nước và nhân viên nhà nước, khi những quyết định và hành vi đó xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Đây cũng chính là một chủ trương lớn của Đảng ta gắn liền với công cuộc đổi mới, cải cách nền hành chính quốc gia, cải cách hệ thống tư pháp. Trong khi đó, Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1991 thay thế cho Pháp lệnh năm 1981, tuy có những tiến bộ nhất định, nhưng mới chỉ là việc giải quyết theo cấp hành chính, theo kiểu “Bộ trưởng - Quan toà”[1], cơ quan hành chính vừa là người bị kiện, vừa là người phán quyết, chưa có một cơ quan xét xử độc lập, theo một trình tự tố tụng và chỉ tuân theo pháp luật. Đáp ứng nhu cầu đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII đã quyết định và nhấn mạnh: “xúc tiến việc thiết lập hệ thống toà hành chính” trong hệ thống Toà án nhân dân để xét xử các khiếu kiện hành chính. Tại kỳ họp thứ 8, khoá IX, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức Toà án nhân dân, trong đó giao cho Toà án nhân dân chức năng xét xử những vụ án hành chính[2]. Từ đó, hệ thống Toà hành chính đã chính thức được thành lập bên cạnh các Toà chuyên trách khác, một kênh giám sát cơ quan quản lý Nhà nước từ bên ngoài - một thiết chế mới có thể bảo vệ hữu hiệu quyền, lợi ích hợp pháp của người dân trong mối quan hệ giữa Nhà nước và người dân. Có thể nói, thiết lập và vận hành mô hình Toà hành chính thuộc hệ thống Toà án nhân dân chính là một bước trên con đường hướng tới mục tiêu đảm bảo công lý, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Hai là, liên tục mở rộng thẩm quyền xét xử của Toà án trong lĩnh vực khiếu kiện hành chính

Sau khi hệ thống Toà hành chính được thành lập trên cơ sở Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Toà án nhân dân, ngày 21/5/1996, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính. Văn bản này đã ghi nhận Toà án có thẩm quyền giải quyết 8 loại khiếu kiện[3]; đến năm 1998 được sửa đổi, bổ sung thêm 2 loại khiếu kiện[4]. Quá trình này, Đảng ta tiếp tục xác định trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về "Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020" là "... mở rộng thẩm quyền xét xử của Toà án đối với các khiếu kiện hành chính; đổi mới mạnh mẽ thủ tục giải quyết các khiếu kiện hành chính tại Toà án; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng giữa công dân và cơ quan công quyền trước Toà án...". Trên cơ sở chủ trương đó của Đảng, ngày 05/4/2006, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá XI đã ban hành Pháp lệnh số 29/2006/PL-UBTVQH11 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính. Theo đó, số lượng các khiếu kiện thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án đã được mở rộng lên tới 22 loại việc[5]. Như vậy, qua những lần sửa đổi, bổ sung thẩm quyền xét xử của Toà án đối với các khiếu kiện hành chính đã liên tục được mở rộng. Tuy nhiên, quy định theo kiểu liệt kê như các Pháp lệnh trên sẽ bị lạc hậu theo thời gian, thường xuyên bị sửa đổi, bổ sung, ảnh hưởng đến tính ổn định của pháp luật mà vẫn không đáp ứng được sự phát triển của điều kiện kinh tế xã hội và nhu cầu của thực tiễn. Ngày 24/11/2010, Quốc hội khoá XII, Kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật Tố tụng hành chính, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2011. Luật Tố tụng hành chính 2010 đã khắc phục hạn chế của các Pháp lệnh trước đây bằng việc quy định mang tính loại trừ - một phương pháp rất mở và bao quát, bao gồm tất cả các quyết định hành chính, hành vi hành chính, chỉ trừ các quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định và các quyết định, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức[6]. Ngoài ra, để loại trừ xung đột, phá vỡ thế bế tắc trong các quy định của pháp luật về thẩm quyền loại việc được khởi kiện ra Toà án, Luật Tố tụng hành chính Tố tụng hành chính đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai[7], tạo ra sự thống nhất trong việc giải quyết các khiếu kiện đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo 2005.

Ba là, ngày càng đơn giản hoá điều kiện khởi kiện hành chính, giảm bớt thủ tục “tiền tố tụng”

Lần đầu tiên trong lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật tố tụng hành chính Việt Nam, quyền khởi kiện vụ án hành chính của người dân để yêu cầu Toà án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình đã được ghi nhận tại Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996[8]. Theo Pháp lệnh này, chỉ những khiếu nại đã được cơ quan nhà nước, người đã ra quyết định hành chính hoặc có hành vi hành chính giải quyết lần đầu, mới được khởi kiện ra Toà hành chính. Luật Khiếu nại, tố cáo số: 09/1998/QH10 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 02 tháng 12 năm 1998, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/1999 và Pháp lệnh số 10/1998/PL-UBTVQH10 được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Khoá X ban hành ngày 25/12/1998 đều có những quy định chung là bổ sung thêm cá nhân, cơ quan, tổ chức có khởi kiện vụ án hành chính ngay cả trường hợp chưa có quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, đó là những khiếu nại đã quá thời hạn hạn giải quyết theo luật định nhưng cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền không giải quyết[9]. Qua 02 lần sửa đổi, bổ sung năm 2004 và 2005, Luật Khiếu nại, tố cáo đã tiếp tục quy định thêm quyền khởi kiện tại Toà án của người dân đối với những trường hợp người khiếu nại không đồng ý đối với quyết định giải quyết khiếu nại lần thứ nhất, đã tiếp tục khiếu nại lần thứ hai nhưng hết thời hạn luật định không được giải quyết và trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần thứ hai[10]. Để kịp thời điều chỉnh cho phù hợp với quy định của pháp Luật Khiếu nại, tố cáo; đồng thời để giải quyết các vướng mắc trên thực tế, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2006 đã quy định người dân có quyền khởi kiện vụ án hành chính nếu đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng không đồng ý với quyết định giải quyết đó và không tiếp tục khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai. Trong trường hợp, khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết, nhưng không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai. Riêng đối với một số lĩnh vực như: quản lý đất đai, cạnh tranh, kỷ luật cán bộ, công chức, lập danh sách cử tri… thì yêu cầu phải có quyết định giải quyết khiếu nại rồi mới được khởi kiện ra Toà án[11].

Theo những quy định đó, trước khi có quyền khởi kiện ra Toà hành chính, người dân phải khiếu nại (lần đầu hoặc lần hai) tại cơ quan hành chính, một số lĩnh vực phải có văn bản giải quyết khiếu nại, như trong lĩnh vực đất đai, kỷ luật cán bộ công chức. Theo chúng tôi, việc bắt buộc phải qua khiếu nại tại cơ quan hành chính như vậy chính là một thủ tục “tiền tố tụng”; quy định như vậy chưa tạo điều kiện thuận lợi cho công dân, cơ quan, tổ chức trong việc khởi kiện vụ án hành chính, thủ tục còn rườm rà và trong một số trường hợp không đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Luật Tố tụng hành chính khắc phục nhược điểm nói trên của Luật Khiếu nại, tố cáo 2005 và của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính 2006, đã quy định theo hướng đơn giản hoá điều kiện khởi kiện vụ án hành chính. Theo đó: người dân có quyền khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính trong trường hợp không đồng ý với quyết định đó, hoặc đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật về khiếu nại mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng không đồng ý với kết quả giải quyết đó[12]. Như vậy, thủ tục “tiền tố tụng” đã không còn là yếu tố bắt buộc đối với hầu hết các khiếu kiện hành chính, ngoại trừ đối với khiếu kiện về xử lý vụ việc cạnh tranh. Quy định này là một trong các yếu tố tạo điều kiện cho người dân dễ dàng, thuận lợi tiếp cận với Toà án để yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

2. Một số đề xuất hoàn thiện cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính của người dân

Từ những phân tích ở trên, có thể thấy rằng, quá trình đổi mới về cơ chế khiếu kiện hành chính, đã ngày càng hướng tới mục tiêu đảm bảo công lý hành chính cho mỗi người dân. Tuy nhiên, theo chúng tôi, cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính vẫn còn những hạn chế cần, xin đưa ra một số giải pháp trên cơ sở khắc phục một số tồn tại để hoàn thiện cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính của người dân như sau:

Thứ nhất, xây dựng mô hình tòa án sơ thẩm khu vực và toà án phúc thẩm khu vực, trong đó có tòa chuyên trách xét xử những vụ án hành chính

Mặc dù Tòa hành chính đã được thành lập và thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với các khiếu kiện hành chính ngày càng được mở rộng nhưng xuất phát từ thực tế hiện nay mô hình tổ chức hệ thống Tòa án của nước ta còn nhiều hạn chế. Bên cạnh những vấn đề như cơ sở vật chất, kinh phí, nhân lực chuyên môn vừa thiếu, vừa dàn trải, thì vẫn còn hiện tượng một số vụ án xét xử bị ảnh hưởng của cấp ủy và chính quyền địa phương, thậm chí có trường hợp can thiệp sâu vào hoạt động xét xử của Tòa án, dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, vị thế của Toà án bị xâm hại, lòng tin của nhân dân đối với nền công lý xã hội bị suy giảm[13]. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, nhưng có lẽ nguyên nhân không thể không nhắc đến đó là: do mức độ phụ thuộc vào chính quyền địa phương về quan hệ hành chính và hỗ trợ cơ sở vật chất; do một số cấp uỷ địa phương còn nhận thức chưa đúng đắn vai trò lãnh đạo của Đảng về công tác xét xử đối với Toà án có tổ chức Đảng phụ thuộc mình. Đặc biệt trong lĩnh vực hành chính, một lĩnh vực “dân kiện quan” thì những việc như thẩm phán cấp huyện xét xử một quyết định hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện hay thẩm phán cấp tỉnh xét xử hành vi hành chính của một Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh là điều có khả năng dẫn đến thiếu khách quan. Do đó, quán triệt tinh thần Nghị Quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, tổ chức hệ thống tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính mà sẽ thành lập các Toà án theo khu vực, gồm Tòa án sơ thẩm khu vực được tổ chức ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện; Tòa án phúc có nhiệm vụ chủ yếu là xét xử phúc thẩm và xét xử sơ thẩm một số vụ án, Tòa thượng thẩm được tổ chức theo khu vực có nhiệm vụ xét xử phúc; Tòa án nhân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm. Mô hình tổ chức hệ thống Toà án này cũng đã được nhiều học giả, chính trị gia và chuyên gia pháp luật trao đổi, thảo luận trên một số diễn đàn về thuận lợi và khó khăn, trong đó đã phân tích và chỉ ra nhiều ưu việt so với mô hình tổ chức Toà án hiện nay. Trong đó, có ý kiến cho rằng theo mô hình này thì Toà án cấp tỉnh hiện nay, cơ bản là không thay đổi[14], gần như là chuyển ngang thành Tòa án phúc có nhiệm vụ chủ yếu là xét xử phúc thẩm và xét xử sơ thẩm một số loại việc. Mô hình này, theo chúng tôi, vẫn còn phát sinh bất cập, ví dụ như khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh mà trái pháp luật, xâm phạm quyền lợi ích hợp pháp của người dân thì họ khởi kiện ở đâu? Nếu khởi kiện tại Toà án cấp phúc thẩm (tương đương cấp tỉnh) thì vẫn chưa khắc phục được tình trạng bị ảnh hưởng bởi cấp uỷ và chính quyền địa phương như đã phân tích ở trên; Nếu giao thêm cho Toà án sơ thẩm khu vực thì sẽ gặp nhiều khó khăn, khó đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp. Do đó, thiết nghĩ, trong mô hình cải cách tổ chức Toà án sau này nên theo hướng triệt để hơn, tức là Toà án phúc thẩm theo mô hình của Nghị quyết số 49/NQ-TW cũng nên được tổ chức theo khu vực. Căn cứ vào đặc điểm địa lý, tính chất dân cư và đặc biệt là số vụ việc khiếu nại, khiếu kiện sơ thẩm, phúc thẩm để thành lập các Tòa phúc thẩm khu vực trên cơ sở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp tỉnh hiện nay. Theo mô hình này, hệ thống tòa án ở nước ta sẽ có sự thay đổi cơ bản về tổ chức, trong đó các tòa án địa phương sẽ được thay thế bởi Tòa án sơ thẩm khu vực và Tòa án phúc thẩm khu vực; trong mỗi tòa án khu vực sẽ có một tòa chuyên trách xét xử các vụ án hành chính. Tuy nhiên, đây là một vấn đề lớn, phức tạp, đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, không thể giải quyết dứt điểm trong một sớm, một chiều mà cần phải có lộ trình phù hợp trong từng thời điểm, hoàn cảnh cụ thể.

Thứ hai, tiếp tục mở rộng thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức

Hiện nay, Luật Tố tụng hành chính 2010 đã khắc phục được nhiều hạn chế của các văn bản trước đây bằng quy định mang tính loại trừ về thẩm quyền xét xử khiếu kiện hành chính của Tòa án. Tuy nhiên, phạm vi loại trừ ở đây cũng nên cần tiếp tục được xem xét bởi lẽ chúng ta đang trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà trong một Nhà nước pháp quyền đòi hỏi pháp luật phải là thượng tôn, mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm cả các cơ quan hành chính nhà nước và người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước đều làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Do đó, các cơ quan tòa án ngoài việc cần được đảm bảo độc lập với các cơ quan hành chính, thì còn phải có thẩm quyền quyết định tính đúng sai của tất cả các quyết định hành chính, hành vi hành chính và mục tiêu của Luật Tố tụng hành chính là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi cá nhân, cơ quan, tổ chức tại các cơ quan tòa án. Vì vậy, về lâu dài, thiết nghĩ không nên có bất kỳ quyết định hành chính, hành vi hành chính nào của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước lại không bị kiểm soát. Tuy nhiên, việc mở rộng thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với các khiếu kiện hành chính theo hướng đề xuất này là một quá trình, cần phải thận trọng, trước mắt trong những năm tới, theo chúng tôi chỉ nên xem xét làm rõ và đưa các quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức vào đối tượng thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án. Sở dĩ như vậy bởi vì, dù là quyết định, hành vi mang tính chất nội bộ nhưng cũng là quyết định, hành vi hành chính, trong trường hợp quyết định hành chính đó, hành vi hành chính đó trái pháp luật và xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân thì không có lý gì mà người dân lại không thể khởi kiện người hoặc cơ quan thực hiện hành vi đó ra Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Hơn nữa, thực tế thời gian qua cho thấy chính những hành vi tắc trách, thiếu trách nhiệm trong hoạt động quản lý, điều hành nội bộ của một số cơ quan, tổ chức đã dẫn đến thiệt hại của người dân nhưng rất khó quy trách nhiệm để xem xét bồi thường thiệt hại. Sở dĩ như vậy vì những hành vi đó không được coi là đối tượng bị khởi kiện hành chính tại Tòa án nên không có bản án, quyết định của Tòa án. Trong khi đó, theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, những trường hợp như vậy, nếu không có bản án, quyết định của Tòa án thì không có căn cứ để xác định hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức nhà nước. Xin đơn cử ví dụ như sau: một người dân nộp đầy đủ hồ sơ và lệ phí đề nghị cấp giấy chứng nhận sở hữu nhà ở tại cơ quan quản lý nhà ỏ của quận Đ, thành phố H. Quá thời hạn giải quyết đã lâu nhưng cơ quan quản lý nhà ở lại “quên” không xem xét trình Uỷ ban nhân dân quận Đ ký giấy chứng nhận và thông báo cho người dân đó nộp nghĩa vụ tài chính theo quy định dẫn đến gây thiệt hại cho người dân đó. Trong trường hợp này, cơ quan quản lý nhà ở là cơ quan chuyên môn giúp cho Ủy ban nhân dân quân Đ, Ủy ban nhân dân quận Đ mới là nơi có thẩm quyền cấp sổ cho nên hành vi “quên” không trình của cơ quan quản lý nhà ở là hành vi hành chính mang tính nội bộ của của Uỷ ban nhân dân quận Đ. Do đó, người người dân chỉ có thể khởi kiện Ủy ban nhân dan quận Đ, chứ không thể khởi kiện cơ quan quản lý nhà ở của quận Đ. Tình huống này cho thấy, cơ quan quản lý nhà ở quận Đ đã thực hiện hành vi trái pháp luật, gây thiệt hại cho người dân nhưng lại không bị khởi kiện ra Toà cho nên chưa đề cao được trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà ở, bài học kinh nghiệm chắc chắn sẽ không sâu sắc, ý nghĩa bằng việc chính cơ quan đó bắt buộc phải có đại diện đứng trước Toà để giải quyết vụ việc. Do vậy, mở rộng thẩm quyền xét xử của Toà án cả đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức, còn có ý nghĩa dăn đe, đề cao thêm trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc quản lý, chỉ đạo, điều hành hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong phạm vi cơ quan, tổ chức đó.

Thứ ba, tiếp tục đơn giản hoá theo hướng loại trừ thủ tục “tiền tố tụng” đối với tất cả các khiếu kiện hành chính

Pháp luật tố tụng hành chính hiện nay đã cơ bản khắc phục được hầu hết các hạn chế về khía cạnh điều kiện khởi kiện hành chính tại Toà án, thủ tục “tiền tố tụng” đã được giảm bớt gần tối đa, đối với hầu hết các vụ án hành chính, thủ tục này không còn là yếu tố bắt buộc nữa. Tuy nhiên, vẫn còn đối với các quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, phải có quyết định giải quyết khiếu nại của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người dân mới có thể khởi kiện ra Toà hành chính. Lý giải cho những trường hợp này, nhiều ý kiến cho rằng, đó là loại việc thuộc lĩnh vực chuyên ngành, có tính chuyên môn sâu phải qua thủ tục giải quyết khiếu nại tại cơ quan hành chính trước khi khởi kiện ra Toà án. Đây cũng là điều kiện để đương sự có điều kiện thu thập thêm tài liệu, chúng cứ để bảo vệ quyền, lợi ich hợp pháp của mình; cơ quan hành chính tự xem xét lại quyết định hành chính đã ban hành và phù hợp vói khả năng, điều kiện giải quyết các vụ án hành chính hiện nay. Tuy nhiên, theo chúng tôi, đây chỉ là giải pháp trước mắt, về lâu dài, cần phải có lộ trình thích hợp, loại trừ hẳn quy định bắt buộc về thủ tục “tiền tố tụng” đối với tất cả các khiếu kiện hành chính. Quy định như vậy người dân hoàn toàn có quyền lựa chọn giải pháp hành chính (khiếu nại đến cơ quan hành chính hoặc người đã ban hành quyết định hành chính) hay giải pháp tư pháp (khởi kiện ra Toà án) khi có tranh chấp hành chính. Họ cũng đồng thời không phải tuần tự qua các bước “khiếu nại lần đầu - khiếu nại lần hai - khởi kiện” hay nói cách khác tất cả các quyết định hành chính, hành vi hành chính xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức đều có thể bị khởi kiện vào bất cứ giai đoạn nào.

Như vậy, trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính đang ngày càng được hoàn thiện. Tiếp tục đổi mới cơ chế này, đòi hỏi phải có nhiều giải pháp đồng bộ từ về tổ chức bộ máy, thẩm quyền của cơ quan xét xử khiếu kiện hành chính đến cơ quan kiểm sát, các hoạt động bổ trợ tư pháp như bảo đảm sự tham gia của hiệu quả của luật sư vào quá trình giải quyết khiếu kiện hành chính... Tuy nhiên, bài viết này chỉ đưa ra một vài giải pháp trao đổi cùng bạn đọc với hy vọng nâng cao hiệu quả cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính trong giai đoạn hiện nay, hướng tới mục tiêu đảm bảo công lý hành chính, quyền bình đẳng của người dân với cơ quan công quyền, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam./.

-------------

[1] Nguyễn Văn Báu, Thiết lập Toà án hành chính góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, xem tại http://www.giri.ac.vn/images/File/bai01_phan3_tap1.doc.

[2] Xem Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số Luật Tổ chức Tòa án nhân dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1995.

[3] Xem Điều 11 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.

[4] Xem Khoản 5, Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (1998).

[5] Xem Khoản 4, Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (2006).

[6] Xem Điều 28 Luật Tố tụng hành chính 2010.

[7] Xem Điều 264 Luật Tố tụng hành chính 2010.

[8] Xem Điều 1 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.

[9] Xem Điều 39 Luật Khiếu nại, tố cáo 1998 và Khoản, Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (1998).

[10] Xem Khoản 19, Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo (2005).

[11] Xem Khoản 1, Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (2006).

[12] Xem Điều 103 Luật Tố tụng hành chính 2010.

[13] Trần Thu Hạnh. Một số giải pháp nâng cao vị thế của đội ngũ thẩm phán trong tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp. Tạp chí khoa học ĐHQGHN, Luật học số 29 (2009), tr 97.

[14] Đặng Quang Phương. Sẽ thành lập Tòa án khu vực, xem tại: http://vnexpress.net/gl/phap-luat/2005/11/3b9e4282/.

ThS. Nguyễn Thắng Lợi - Phó Chánh Thanh tra Bộ Tư pháp - Nguồn: moj.gov.vn

Đường dẫn của bản tin này: /index.php?f=news&do=detail&id=310
© Văn phòng Luật Sư Vì DânEmail: vinhquangvip@gmail.com