Bài đọc nhiều nhất
Liên kết
Góp ý XD pháp luật

Luật quốc tế và chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa: Sử liệu TQ nói gì?

Chủ nhật, 07.08.2011 08:33
Xuất phát từ những ghi chép đó, người TQ cho rằng Trướng Hải là biển Nam Trung Hoa bao gồm tất cả các đảo của biển Nam Hải.

Trước  hết  Trung Quốc (TQ)  yêu  sách  chủ  quyền  trên các quần đảo  trên cơ sở quyền phát hiện và  sự quản lý. Lập luận của TQ bao gồm: 1. Người TQ đã phát hiện ra các đảo này sớm nhất và đã đặt tên cho chúng. 2. Ngư dân TQ đã khai thác các đảo này từ  hàng  nghìn  năm  nay. Điều đó chứng  minh  chủ quyền của TQ. 3. Sự  quy  thuộc  các  đảo  này  vào  TQ được củng cố bằng các phát hiện khảo cổ học. 4. TQ đã  thực  hiện  các  hành  động  cai quản trên các đảo này từ lâu đời. Chúng  ta  sẽ  xem  xét  lập  luận  của  TQ trong hai tiểu giai đoạn sau: thiết lập một danh nghĩa ban đầu và việc củng cố danh nghĩa đó.

"Từ  thời Hán Vũ  đế  trước  công  lịch  hai  thế  kỷ, nhân dân TQ đã bắt đầu đi lại trên biển Nam. Trải  qua  thực  tiễn  hàng  hải  lâu  dài  nhân  dân TQ  đã  lần  lượt  phát  hiện  các  quần  đảo  Tây  Sa (Paracels)  và Nam  Sa (Spratlys)" - Sách  trắng  của Bộ  Ngoại  giao  TQ  ngày 30.1.1980:  "Chủ  quyền  không  thể  tranh  cãi  của  TQ trên các đảo Tây Sa và Nam Sa" đã khẳng định như vậy. Để chứng minh danh nghĩa  lịch  sử của họ, phía TQ đã dựa trên những cuốn sách chính như sau:

- Nam châu dị vật chí của Dương Phù và Phù Nam truyện của Khang Thái, đều viết vào thời Tam Quốc (220-265); Vũ  kinh  tổng  yếu của Tăng Công  Lượng  (998-1078) và Đinh Độ (990-1053) thời Tống biên soạn; Mong Liang Lu được soạn dưới thời nhà Tống (960 - 1127); Đảo di chí  lược do Vương Đại Uyên soạn dưới thời nhà Nguyên (1206 - 1368); Đông Tây  dương  khảo của Trương Nhiếp  viết dưới thời nhà Minh (1368 - 1644); "Trịnh Hòa hàng hải đồ" trong  Vũ bị chí của Mao Nguyên Nghi biên soạn đầu thế kỷ XVII; Độc sử phương dư kỷ yếu của Cố Tổ Vũ đầu nhà Thanh; Hải  Quốc  văn  kiến  lục  của  Trần  Luân  Quýnh năm 1730; Dương  phòng  tập  yếu của  Nghiêm  Như  Dục viết, Trương Bằng Phi khắc năm 1828; Quỳnh Châu phủ chí giữa thế kỷ XIX; Quảng Đông đồ thuyết (1862-1875); Canh lộ bạ do ngư dân các đời kể lại.


Theo bản đồ do triều đình nhà Thanh ấn hành năm 1894 thì đến cuối thế kỷ XIX "lãnh thổ của Trung Quốc chỉ chạy đến đảo Hải Nam là hết" -  trong ảnh: Đại Thanh nhất thống toàn đồ (đảo nhỏ ở phía dưới là Hải Nam, gần đó bên trái là Giao Chỉ (VN), đảo lớn hơn bên phải là Đài Loan) - Ảnh: biengioilanhtho.gov.vn

Các  sách  kể  trên  hoàn  toàn  không  phải  là  các chính  sử  được  viết  bởi  các  cơ  quan  chính  thức  của nhà nước. Phần  lớn chúng  là những ghi chép về các chuyến đi, các chuyên khảo và các sách hàng hải thể hiện những nhận biết địa  lý của người xưa  liên quan không chỉ  tới  lãnh  thổ TQ mà  còn  tới  lãnh thổ của các nước khác.

Ví dụ, Hải Quốc văn kiến lục, đúng  như  tên  sách,  phần  lớn  nói  về  các  miền  mà người TQ gọi  là "man di" nhiều hơn  là TQ.

Sách Tống  sử phần Ngoại  quốc  chép  chuyện Chiêm  Thành: "Năm  Thiên  Hy thứ  hai  (1016)  vua Chiêm Thành là Thi Mặc Bài Ma Diệp sai sứ là La Bi Đế Gia chở đồ cống sang... La Bi Đế Gia nói  rằng người nước  tôi  trên đường sang Quảng Châu, nếu bị thuyền  dạt  ra Thạch Đường thì cả năm cũng không tới nơi được".  Cứ  theo  đó  mà  suy  thì  từ  Chiêm Thành  đến Quảng Châu có vùng được  gọi là Thạch Đường  nhưng  không  có  nghĩa  Thạch  Đường  thuộc Quảng Châu và vì sách  này  chép  về  các  vùng  nước người  TQ coi  là "man  di"  thì  nó  không  thể được coi là thuộc  TQ.

Sách Dư  địa  chí, quyển  4  phần Cương vực  chép: "Phía  ngoại  vi  của Quỳnh Châu là biển lớn tiếp với các châu Ô, châu Lý, Tô Cách  Lương,  phía Nam  đến Chiêm  Thành,  phía Tây  đến Chân Lạp, Giao Chỉ,  phía Đông  đến Thiên Lý  Trường  Sa,  Vạn  Lý  Thạch  Đường... Người  địa phương đi thuyền đều không biết rõ đâu là vị trí thực của chúng". Trong tất cả các sách kể trên, liệt kê một đống  lẫn  lộn  các  tên  Cửu  Nhũ  Loa  Châu,  Thạch Đường, Thiên Lý Vạn Đường, Trường Sa, Thiên Lý Trường  Sa  và Vạn  Lý  Trường  Sa  nhưng  không  có tên Tây Sa và Nam Sa. Bản  thân người TQ cũng  không định  rõ được  vị  trí  của  chúng. Điều đó, không  nghi  ngờ  gì  đã  dẫn  tới  những  cuộc  tranh  cãi bất tận giữa các nhà dịch thuật và các học giả về việc thống  nhất  các  tên  gọi  trên. Mặc dù Hung dan Chiu và Choon Ho Park cho  rằng Vạn Lý Thạch Sành chỉ Spratlys, M.S Samuels  lại bảo vệ tên đó dùng để chỉ đá  ngầm  mà  ngày  nay  có  tên  gọi  là  Trung  Sa (Macclesfield Bank).

Phù Nam truyện chép: "Trong Trướng Hải có các bãi san hô, dưới bãi là đá tảng san hô mọc trên đó".

Nam Châu di vật chí ghi lại: "Kỳ đầu Trướng Hải nước nông có nhiều từ thạch,  thuyền  lớn  nằm  ngoài biên cương, đóng đai sắt, đi lại dựa trên la bàn".

Xuất phát  từ  những  ghi  chép  đó,  người TQ cho rằng Trướng Hải  là biển Nam Trung Hoa bao gồm tất cả các đảo của biển Nam Hải. Tuy nhiên, chúng ta có thể có một vài nhận xét:

- Các đoạn văn trích trên không cho thấy rõ vị trí chính  xác  của  Trướng  Hải.  Chúng  cũng  không  xác định  rõ  các  thạch  sành  nói  trên  chính  là  Tây  Sa  và Nam Sa. Các sách trên, đúng như tên gọi, đều là miêu tả các  lãnh  thổ "man di", nước ngoài, không phải  lãnh thổ TQ.

- Nam  Châu dị  vật chí được  soạn  thời Tam Quốc (220-265)  lại nói  tới việc  sử dụng  la bàn  trong hàng hải,  thế nhưng dụng cụ hàng hải này dường như chỉ mới xuất hiện từ thế kỷ thứ X.

- Cụm  từ  "nằm  ngoài  biên  cương" cho  thấy  các đảo  đá  này  không  thuộc  lãnh  thổ  TQ. Giả định này còn được khẳng định bởi các  tài  liệu chính thức khác  của TQ mô  tả  và phân định  lãnh thổ của "Thiên triều" kết thúc ở điểm cực Nam của đảo Hải Nam  như: Quỳnh Châu  phủ  chí  (1731), Hoàng Triều  di  tông  tâm  lĩnh (1894),  Đại  Thanh  di  đồ (1905)... hay  các  sách,  bản  đồ  cổ  khác  của  người TQ đều xác định rõ điểm mút phía Nam của lãnh  thổ  TQ  nằm ở Nhai Châu,  thuộc  phủ Quỳnh Châu tỉnh Quảng Đông tại vĩ độ 18013' Nam. Điều đó  còn được khẳng định bởi  sách Địa  lý  Giáo  khoa  thư,  Thương Vụ ấn Thư Quán, Thượng Hải (TQ) năm 1906 xuất bản: "Phía Nam bắt đầu là  vĩ  độ  18013'  Nam  lấy  bờ  biển  Châu  Nhai  đảo Quỳnh  Châu  (tức  đảo  Hải  Nam)  làm  điểm  mút". Chúng ta không thấy trong các tác phẩm này một ghi chép nào về các quần đảo nằm ngoài điểm cực Nam đó.

  • Theo Thanh Niên

[Trở về] [Đầu trang]In bài viết Gửi cho bạn bè

 

Các tin mới khác:
» Cuối năm nay thông qua Luật Biển (08.08.2011)
» Biểu tình là để chống lại chính phủ nước mình (*) (23.11.2011)
» Phát biểu như thế là xúc phạm đến người dân (*) (23.11.2011)
» Quốc hội tranh luận nảy lửa về luật Biểu tình Từ “chống chính phủ” đến “xúc phạm nhân dân” (23.11.2011)
» Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc: Quyền biểu tình: tránh để luật “treo”, sao để Hiến pháp “treo”? (23.11.2011)
» Nói nhân dân không cần luật Biểu tình là sai (23.11.2011)
» Nhân chuyện luật biểu tình, luật nhà văn (23.11.2011)
» Hiến pháp 1946: Thể hiện cơ chế phân công và kiểm soát quyền lực (15.12.2011)
» Nghị định về giao dịch bảo đảm – một số vấn đề cần quan tâm (31.12.2011)
» Vụ Tiên Lãng và an toàn pháp lý (13.02.2012)

Các tin khác:
» Chưa nên thông qua Luật thủ đô trong năm 2012 (30.06.2011)
» Phố người Hoa ở Việt Nam – chính sách hay tầm nhìn? .Tác giả: Đường Xuân Thanh (30.06.2011)
» Dự kiến thu nhập trên 9 triệu đồng mới phải nộp thuế (24.06.2011)
» Một số vấn đề góp ý xây dựng Luật Xử lý vi phạm hành chính (24.06.2011)
» Hội thảo Góp ý cho Văn kiện Đại hội 11 (17.05.2011)
» Luật pháp không thể không hội nhập thế giới .Tác giả: TS Nguyễn Sỹ Phương, CHLB Đức (18.04.2011)
» Hành chính công: Không tỉnh nào hoàn hảo (13.04.2011)
» Cựu Chủ tịch QH: Ba vấn đề cốt lõi khi sửa Hiến pháp (11.02.2011)
» Bộ trưởng Tư pháp: "Thời điểm chín muồi sửa Hiến pháp" (10.02.2011)

Quảng cáo