Bài đọc nhiều nhất
Liên kết
Văn bản pháp luật

CHỈ THỊ SỐ 06/2008/CT-BCA-C11 NGÀY 09-7-2008 CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG AN

Thứ tư, 30.07.2014 13:14
CHỈ THỊ SỐ 06/2008/CT-BCA-C11 NGÀY 09-7-2008 CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG ANVỀ KHẮC PHỤC SƠ HỞ, THIẾU SÓT, CHẤN CHỈNH SAI PHẠMTRONG CÔNG TÁC BẮT, GIAM GIỮ, ĐIỀU TRA, XỬ LÝ TỘI PHẠM CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN

CHỈ THỊ

SỐ 06/2008/CT-BCA-C11 NGÀY 09-7-2008 CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG ANVỀ KHẮC PHỤC SƠ HỞ, THIẾU SÓT, CHẤN CHỈNH SAI PHẠMTRONG CÔNG TÁC BẮT, GIAM GIỮ, ĐIỀU TRA, XỬ LÝ TỘI PHẠM CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN

Sau 3 năm thực hiện Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004, Cơ quan điều tra các cấp trong Công an nhân dân hoạt động theo mô hình mới đã phát huy được tác dụng, đạt được những kết quả quan trọng. Công tác bắt, giam giữ, điều tra, xử lý tội phạm từng bước đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm; tỷ lệ khởi tố vụ án, khởi tố bị can và kết luận điều tra chuyển Viện Kiểm sát nhân dân các cấp đề nghị truy tố năm sau đều tăng hơn năm trước. Cơ quan điều tra các cấp trong Công an nhân dân đã phối hợp chặt chẽ với Viện Kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân trong hoạt động tố tụng hình sự, điều tra khám phá đưa nhiều vụ án lớn, đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp ra truy tố, xét xử, phục vụ kịp thời yêu cầu chính trị được Đảng, Nhà nước và nhân dân đánh giá cao, góp phần giữ vững an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.

Tuy nhiên, trong hoạt động điều tra, xử lý tội phạm vẫn còn bộc lộ những sơ hở, thiếu sót, sai phạm như: việc phối kết hợp giữa các đơn vị trong Cơ quan điều tra Công an các cấp xuất hiện xu hướng chia cắt, làm giảm sức mạnh của cả hệ thống Cơ quan điều tra; công tác chỉ đạo của một số đơn vị, địa phương theo hệ điều tra có hiện tượng thoát ly khỏi sự quản lý theo chức năng quản lý về hoạt động tố tụng hình sự của Thủ trưởng Cơ quan điều tra và sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng và Thủ trưởng Công an cùng cấp. Tình trạng để lộ thông tin, tài liệu điều tra trong quá trình tiến hành tố tụng vẫn xảy ra, có thời điểm rất phức tạp, làm ảnh hưởng đến uy tín của Ngành. Do đặc điểm mô hình điều tra hình sự khép kín như hiện nay, nếu chủ quan sẽ dẫn đến bỏ lọt tội phạm; đây cũng là điều kiện phát sinh tiêu cực trong nội bộ. Hoạt động khám xét, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi không thực hiện đúng quy trình, làm qua loa và bỏ sót các dấu vết, vật chứng có giá trị chứng minh, đặc biệt còn hiện tượng tuỳ tiện sửa chữa số liệu, kết quả khám nghiệm hiện trường… Tình hình vi phạm pháp luật trong công tác bắt, giam giữ, điều tra, nhất là bức cung, dùng nhục hình chưa thực sự chuyển biến tích cực. Một số đơn vị điều tra chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa quan trọng trong tham gia tố tụng của người bào chữa, do đó chưa chủ động tạo điều kiện thuận lợi để người bào chữa tham gia tố tụng. Công tác quản chế giam giữ ở trại tạm giam, nhà tạm giữ còn nhiều vi phạm, thiếu trách nhiệm và buông lỏng quản lý, dẫn đến người bị giam giữ là phụ nữ đã có thai ở trong trại tạm giam, nhà tạm giữ; tình trạng thông cung vẫn còn khá phổ biến… Ngoài nguyên nhân do cơ sở vật chất chưa bảo đảm, còn nguyên nhân do chính cán bộ quản giáo, bảo vệ tiếp tay cho người bị giam giữ, thậm chí khi dẫn giải đã cho người bị giam giữ về nhà hoặc gặp đồng bọn, gặp gia đình…

Những tồn tại trên do nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân chủ quan là do lãnh đạo Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Giám thị và cán bộ trại tạm giam, nhà tạm giữ, cán bộ Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp do động cơ tiêu cực hoặc do thiếu trách nhiệm trong việc chấp hành các quy định của pháp luật và của ngành Công an về công tác bắt, giam giữ, điều tra, xử lý, dẫn giải tội phạm. Lãnh đạo ở một số đơn vị, địa phương thiếu kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn việc chấp hành pháp luật; lãnh đạo Cơ quan điều tra và Điều tra viên còn chủ quan trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ; chỉ chú trọng thu thập tài liệu chứng cứ theo hướng buộc tội hoặc chủ quan, thoả mãn khi thấy bị can nhận tội mà không quan tâm đến các tài liệu chứng cứ chứng minh khác…

Để khắc phục những sơ hở, thiếu sót và chấn chỉnh các sai phạm nêu trên, Bộ yêu cầu Cơ quan điều tra Công an các cấp và các cơ quan khác trong Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện tốt những nhiệm vụ sau đây:

1. Phải luôn đặt công tác bắt, giam giữ, điều tra, xử lý tội phạm dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp uỷ Đảng, thực hiện tốt các văn bản chỉ đạo của Đảng và các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, các quy định của Bộ Công an trong công tác bắt, giam giữ, điều tra, xử lý tội phạm, luôn tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Để thực hiện nhiệm vụ này, công tác bắt, giam giữ, điều tra, xử lý tội phạm phải bám sát nhiệm vụ chính trị của từng địa phương, đơn vị, phải bảo đảm đồng thời các yêu cầu về chính trị, pháp luật, nghiệp vụ nhằm ổn định chính trị, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ quyền dân chủ và lợi ích chính đáng của nhân dân, các cơ quan, tổ chức và của các doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

2. Thủ trưởng Cơ quan điều tra Công an các cấp phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, tăng cường chỉ đạo và quản lý chặt chẽ các hoạt động tố tụng hình sự của Cơ quan điều tra theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, phát huy sức mạnh tổng hợp của mô hình Cơ quan điều tra theo quy định của Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự, hạn chế đến mức thấp nhất các vướng mắc dễ xảy ra trong quá trình thực hiện mô hình này. Cần đặc biệt chú ý là trong một đơn vị điều tra, vừa có quyền năng tố tụng, vừa có quyền năng xử lý hành chính, lại có chức năng thực hiện biện pháp trinh sát; do đó rất dễ có sự lạm dụng các hoạt động nói trên trong điều tra, xử lý tội phạm. Không được “hoà tan” giữa hai khâu điều tra trinh sát và điều tra tố tụng làm một, nhất là phải khắc phục tình trạng khép kín, thoát ly khỏi sự quản lý về hoạt động tố tụng hình sự của Thủ trưởng Cơ quan điều tra. Vì vậy, Thủ trưởng Cơ quan điều tra Công an các cấp phải thường xuyên kiểm tra việc thực hiện để tránh tình trạng làm oan người vô tội và bỏ lọt tội phạm.

3. Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra Công an các cấp khi được phân công trực tiếp điều tra các vụ án hình sự, vẫn phải chịu sự chỉ đạo trực tiếp và báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của Thủ trưởng Cơ quan điều tra trước khi quyết định về tố tụng hình sự, nhất là các đối tượng có nhân thân đặc biệt quy định tại Thông tư số 01/2006/TT-BCA(C11) ngày 12-01-2006 của Bộ trưởng Bộ Công an hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Điều 35 Bộ luật Tố tụng hình sự và các trường hợp, đối tượng được quy định tại Quyết định số 1044/2007/QĐ-BCA(C11) ngày 05-9-2007 của Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Quy định về phân công trách nhiệm và quan hệ phối hợp trong hoạt động điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an các cấp.

4. Việc quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạm giam phải đảm bảo thận trọng, nhất là khi áp dụng đối với loại tội phạm ít nghiêm trọng có khung hình phạt trên 02 năm tù cần cân nhắc kỹ để giảm bớt số lượng bị can ở trại tạm giam, nhà tạm giữ. Tiếp tục quán triệt và thực hiện phương châm: “Người phạm tội đáng bắt thì kiên quyết bắt, người phạm tội bắt cũng được, không bắt cũng được thì kiên quyết không bắt”. Phải kiểm soát chặt chẽ việc quyết định bắt người trong trường hợp khẩn cấp, khắc phục tình trạng lạm dụng bắt khẩn cấp tràn lan. Do đó, việc duyệt bắt người trong trường hợp khẩn cấp phải theo đúng các điều kiện quy định của pháp luật và Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-VKSTC-BCA-BQP ngày 07-9-2005 của liên ngành Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng về quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện Kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

5. Trong hoạt động điều tra, xử lý tội phạm, các Cơ quan điều tra và các cơ quan khác trong Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện tốt những công việc sau đây:

a) Phải kiên quyết hơn nữa trong việc giáo dục cán bộ, chiến sĩ về trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp; đẩy mạnh công tác kiểm tra, hướng dẫn, chấm dứt hiện tượng bức, mớm cung, dùng nhục hình trong công tác bắt, giam giữ, điều tra, xử lý tội phạm. Khắc phục tư tưởng chủ quan, nóng vội trong chỉ huy, chỉ đạo, trong việc thu thập, đánh giá sử dụng chứng cứ. Trong hoạt động điều tra cần chú ý không chỉ thu thập tài liệu chứng cứ buộc tội, mà còn phải thu thập các tài liệu, chứng cứ xác định sự vô tội; không được định kiến, luôn cho là bị can ngoan cố nên không quan tâm làm rõ các tình tiết minh oan của bị can. Không được chủ quan, thoả mãn khi thấy bị can nhận tội mà bỏ qua việc nghiên cứu, xem xét các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án đã vội kết luận theo lời khai của bị can, khi bị can phản cung không còn điều kiện để thu thập để củng cố chứng cứ.

b) Cơ quan điều tra các cấp phải tạo điều kiện thuận lợi cho người bào chữa tham gia tố tụng ngay từ giai đoạn điều tra, không được gây khó khăn, trở ngại trong việc cấp giấy chứng nhận người bào chữa và sự có mặt của họ trong các hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật.

c) Hoạt động khám xét, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi phải thực hiện đúng quy trình. Biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi phải phản ánh đầy đủ kết quả khám nghiệm, đồng thời phải bảo đảm thực hiện đúng quy định về trình tự, thủ tục pháp lý. Cần chấm dứt tình trạng làm qua loa đại khái, bỏ sót dấu vết, vật chứng có giá trị chứng minh hoặc tuỳ tiện sửa chữa, ghi thêm vào biên bản đã được thông qua từ các hoạt động trên.

d) Phải đặc biệt coi trọng công tác điều tra ban đầu, vì giai đoạn này việc thu thập tài liệu chứng cứ thường có nhiều thuận lợi và bảo đảm tính khách quan. Nếu không làm tốt công tác điều tra ban đầu sẽ làm mất đi thời cơ phát hiện, thu thập chứng cứ mà các giai đoạn điều tra tiếp theo sẽ rất khó khăn hoặc không có khả năng phát hiện, thu thập. Đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự bế tắc của nhiều vụ án trong các năm qua.

đ) Phải chấm dứt tình trạng lấy hoạt động điều tra tố tụng thay cho hoạt động điều tra trinh sát, lấy hỏi cung thay thế các biện pháp nghiệp vụ; chủ động trong chỉ đạo, tránh tình trạng chạy theo vụ việc làm hạn chế hiệu quả công tác nghiệp vụ cơ bản.

e) Chấm dứt ngay tình trạng lộ lọt thông tin, tài liệu trong điều tra tố tụng hình sự. Tuyệt đối giữ bí mật tài liệu thu thập được bằng biện pháp điều tra trinh sát. Tài liệu trinh sát phải được kiểm tra, xác minh trước khi sử dụng. Không được sử dụng tài liệu trinh sát khi chưa chuyển hoá thành chứng cứ. Đối với các tài liệu trinh sát liên quan đến các lĩnh vực nhạy cảm, phức tạp phải báo cáo Thủ trưởng Cơ quan điều tra và lãnh đạo cấp trên để chỉ đạo xem xét, xác minh. Nghiêm cấm cung cấp các thông tin thu thập được trong quá trình điều tra cho tổ chức, cá nhân không có trách nhiệm khi chưa có kết luận điều tra hoặc quyết định của người có thẩm quyền. Khi có dấu hiệu lộ, lọt thông tin điều tra, phải yêu cầu những đơn vị, cá nhân tiếp nhận, quản lý thông tin đó báo cáo, làm rõ và xử lý ngay, không để tiếp diễn.

6. Về công tác quản lý người bị tạm giữ, tạm giam, Công an các đơn vị, địa phương phải có kế hoạch thường xuyên kiểm tra chấn chỉnh, khắc phục ngay những thiếu sót, sai phạm như: cho phạm nhân tự giác quản lý chìa khoá buồng giam, khu giam; tình trạng thông cung trong trại tạm giam, nhà tạm giữ; tình trạng phạm nhân nữ có mức án tử hình có thai trong trại tạm giam, bị can và phạm nhân quan hệ tình dục trong trại tạm giam, nhà tạm giữ; tình trạng cho can phạm gặp người thân và đồng bọn, cho can phạm về thăm gia đình… trong khi dẫn giải. Cần làm tốt công tác trinh sát, chống thông cung, chống trốn, chống tự sát trong trại tạm giam, nhà tạm giữ để công tác quản chế giam giữ đảm bảo thật sự nghiêm ngặt, chặt chẽ, phục vụ có hiệu quả cao nhất cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.

7. Phải coi trọng việc nâng cao trình độ về chính trị, pháp luật, nghiệp vụ điều tra và kiến thức chuyên môn cần thiết cho Điều tra viên, cán bộ trinh sát. Chú ý nâng cao chất lượng của cán bộ điều tra, nhất là năng lực điều tra, coi trọng xây dựng đạo đức nghề nghiệp cho Điều tra viên để bảo đảm cán bộ điều tra có tâm trong sáng, ứng xử có văn hoá trong hoạt động điều tra. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, cần tiếp tục giáo dục cán bộ, chiến sĩ thực hiện có hiệu quả cuộc vận động “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, gắn liền với cuộc vận động “Công an nhân dân vì nước quên thân, vì dân phục vụ” và “Xây dựng phong cách người Cảnh sát nhân dân vì nhân dân phục vụ”.

8. Lãnh đạo các đơn vị điều tra phải tăng cường công tác quản lý cán bộ, đảng viên, chiến sĩ; thường xuyên kiểm tra, giám sát chặt chẽ, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngay trong nội bộ từng đơn vị của Cơ quan điều tra các cấp. Coi trọng xây dựng lực lượng điều tra Công an các cấp thực sự trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu điều tra, xử lý tội phạm trong tình hình mới; ưu tiên bổ sung biên chế cho lực lượng điều tra Công an cấp huyện để bảo đảm yêu cầu tăng thẩm quyền điều tra theo lộ trình đến năm 2009 tất cả Cơ quan điều tra Công an cấp huyện sẽ điều tra các loại tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng và rất nghiêm trọng tức là điều tra các loại tội phạm có khung hình phạt từ 15 năm tù trở xuống. Tiếp tục bố trí, điều chuyển Điều tra viên ở những đơn vị điều tra có ít án kinh tế, tham nhũng sang hệ C14, C17 để đáp ứng yêu cầu điều tra, xử lý các loại tội phạm về trật tự xã hội và tội phạm về ma tuý.

9. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án nâng cao năng lực cho các Cơ quan điều tra; dự án nâng cấp, cải tạo trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ của Công an các cấp. Kịp thời đầu tư trang bị phương tiện, kinh phí, công cụ hỗ trợ, thiết bị nghiệp vụ phục vụ công tác, chiến đấu của lực lượng điều tra Công an các cấp.

10. Thực hiện tốt quan hệ phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân cùng cấp trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan, đơn vị theo quy định của pháp luật để nâng cao hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử các loại tội phạm bảo đảm giữ vững an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới.

11. Lãnh đạo Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, lãnh đạo các Tổng cục, Vụ, Cục có liên quan đến công tác bắt, giam giữ, điều tra, xử lý tội phạm phải trực tiếp chỉ đạo và thường xuyên kiểm tra việc thực hiện nghiêm túc Chỉ thị này. Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan khác trong Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Điều tra viên và các cán bộ có trách nhiệm khác nếu vi phạm Chỉ thị này thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Tổng cục I, Tổng cục II có trách nhiệm giúp lãnh đạo Bộ theo dõi, đôn đốc và kiểm tra việc thực hiện Chỉ thị này.

Chỉ thị này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày ký. Các đồng chí Tổng cục trưởng, Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ trưởng và Giám đốc Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Giám đốc Sở Phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ thành phố Hồ Chí Minh chịu trách nhiệm thi hành Chỉ thị này./.

BỘ TRƯỞNG

        (Đã ký)

 

      Đại tướng:LÊ HỒNG ANH

[Trở về] [Đầu trang]In bài viết Gửi cho bạn bè

 

Các tin mới khác:
» THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Hướng dẫn áp dụng một số quy định về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng (30.07.2014)
» THÔNG TƯ LIÊN TỊCH SỐ 05/2005/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP NGÀY 07-9-2005 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO, BỘ CÔNG AN, BỘ QUỐC PHÒNG (30.07.2014)
» Trang phục của bị cáo trước “vành móng ngựa” (02.08.2014)
» Quy trình bảo vệ phiên tòa, áp giải bị cáo, dẫn giải người làm chứng ra tòa và Quy trình thi hành án tử hình (02.08.2014)
» các văn bản pháp luật tố tụng hình sự mới nhất để bạn tham khảo: (02.08.2014)
» NGHỊ QUYẾT của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (02.08.2014)
» NGHỊ ĐỊNH Về chế độ nhuận bút (03.08.2014)
» Luật Bảo hiểm Xã hội (06.08.2014)
» Nghị định số 152/2006/NĐ-CP của Chính phủ : Hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hộivề bảo hiểm xã hội bắt buộc (06.08.2014)
» THÔNG TƯ số Hướng dẫn việc giám định mức suy giảm khả năng lao động của người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc (06.08.2014)

Các tin khác:
» THÔNG TƯ HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN MỘT SỐ NỘI DUNG CỦA ĐIỀU 35 BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003 (30.07.2014)
» THÔNG TƯ LIÊN TỊCH HƯỚNG DẪN THI HÀNH QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ (30.07.2014)
» Luật Đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn (13.07.2014)
» THÔNG TƯ LIÊN TỊCH Số: 03/2013/TTLT-TANDTC-VKSNDTC Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2013 (13.07.2014)
» Nghị Quyết 03/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán (10.07.2014)
» Hiệp ước ngày 30-12-1999 về biên giới trên bộ Việt – Trung (03.07.2014)
» Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97 (28.06.2014)
» NGHỊ ĐỊNH VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI (15.06.2014)
» NGHỊ ĐỊNH SỐ 25/2014/NĐ-CP NGÀY 7 THÁNG 4 NĂM 2014 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH VỀ PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM VÀ VI PHẠM PHÁP LUẬT KHÁC CÓ SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ CAO (15.06.2014)
» THÔNG TƯ SỐ 03/2014/TT-CA NGÀY 28 THÁNG 4 NĂM 2014 VỀ VIỆC BAN HÀNH NỘI QUY PHIÊN TÒA (15.06.2014)


Quảng cáo