Bài đọc nhiều nhất
Liên kết
Góp ý XD pháp luật

Tư tưởng lập pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chủ nhật, 15.06.2014 15:53
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, sau Cách mạng tháng Tám năm 1945; Người đặt nền móng cho việc xây dựng thể chế pháp luật mới tiến bộ ở nước ta
Tư tưởng lập pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh
 Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, sau Cách mạng tháng Tám năm 1945; Người đặt nền móng cho việc xây dựng thể chế pháp luật mới tiến bộ ở nước ta. Tư tưởng lập pháp của Người đã và đang soi sáng cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong thời kỳ đổi mới và hội nhập sâu rộng với thế giới.

Từ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là gốc...

Điểm xuất phát của tư tưởng pháp quyền Hồ Chí Minh là quyền và lợi ích căn bản, cao cả và thiêng liêng của dân tộc và nhân dân Việt Nam. Đó là độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và quyền dân chủ, tự do của nhân dân trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa – hai nguyên tắc tối thượng của pháp luật thời đại văn minh, hiện đại.

Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Người luôn luôn khao khát giành lại nền độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc, no ấm cho nhân dân mình. Trước khi đi xa, trong Di chúc, Người ủy thác cho toàn Đảng, toàn dân thực hiện niềm mong muốn đó: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giầu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Trong văn bản có tính pháp lý đầu tiên khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 – Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Một dân tộc đã gan góc chống lại ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”.

Tư tưởng lập pháp của Hồ Chí Minh còn mang tinh thần cách mạng của thời đại mới với ba trào lưu: tự do, dân chủ, dân sinh; độc lập, dân tộc và chủ nghĩa xã hội của thế kỷ XX. Trong đó, tư tưởng lập pháp của thời đại Khai sáng phương Tây đã đem lại cho Người những nhận thức mới mẻ về quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc của mỗi con người mà cách mạng dân chủ, dân quyền tư sản đã đặt ra, thể hiện trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Mỹ và Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791. Từ quyền lợi của mỗi cá nhân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển và mở rộng thành quyền lợi của dân tộc: “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là; tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Đây chính là sự vận dụng sáng tạo những nguyên lý lập pháp của thời đại “khai sáng” vào hoàn cảnh thực tiễn, lịch sử cụ thể của dân tộc ta sau Cách mạng Tháng Tám.

Đến hai bản hiến pháp nền tảng

Tư tưởng lập pháp hết sức phong phú và sâu sắc của Hồ Chí Minh thể hiện rõ nét trong hai bản hiến pháp có ý nghĩa nền tảng đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam.

Trước hết là tư tưởng đề cao pháp quyền dân chủ. Theo Người, pháp quyền là ý chí, là quyền lợi, là sức mạnh thiêng liêng của nhân dân mà thời đại văn minh đã thấy được. Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời (ngày 3/9/1945), Người đặt ra nhiệm vụ quan trọng là lập ra bản Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để bảo vệ thành quả cách mạng và quyền lợi của nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Trước đây, chúng ta bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một bản hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu để bầu cử Quốc hội - cơ quan lập pháp của chúng ta”.

Sau cuộc kháng chiến trường kỳ, đánh đuổi Thực dân Pháp tái xâm lược, giành lại nền độc lập và giải phóng miền Bắc, chúng ta bước vào thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là đấu tranh thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề xướng việc xây dựng bản Hiến pháp năm 1959. Tinh thần thượng tôn pháp luật lại được thể hiện rõ ràng và mạnh mẽ hơn, Hiến pháp năm 1959 là cơ sở pháp lý cho việc đấu tranh thống nhất đất nước và bảo đảm cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc thắng lợi.

Như vậy, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng cũng như khi trở thành người đứng đầu nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn đề cao tư tưởng lập pháp và đã hiện thực hóa tư tưởng đó bằng sự đóng góp quan trọng cho việc ra đời hai bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Thứ hai, tư tưởng đề cao chủ quyền dân tộc (độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia); tư tưởng quyền dân chủ, tự do của nhân dân là hai nội dung căn cốt trong tư tưởng lập pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Điều này đã được thể hiện trong Lời nói đầu của bản Hiến pháp năm 1946, khẳng định thành quả Cách mạng Tháng Tám là “giành lại chủ quyền cho đất nước, tự do cho nhân dân và lập ra nền dân chủ cộng hòa”. Chúng chi phối nhiệm vụ của bản Hiến pháp dân chủ đầu tiên của Nhà nước Việt Nam trước âm mưu trở lại xâm lược của Thực dân Pháp: “Bảo vệ lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ”.

Ý thức về chủ quyền quốc gia dân tộc của bản Hiến pháp năm 1946 được chuyển hóa trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 24/12/1946 và Lời kêu gọi kháng chiến chống Mỹ cứu nước ngày 17/7/1966 với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, cho đến Bản Di chúc thiêng liêng của Người với ý chí “Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định thống nhất”.

Trong tư tưởng lập pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyền dân chủ của nhân dân không chỉ bảo đảm cho việc “bảo vệ lãnh thổ giành độc lập hoàn toàn” mà “kiến thiết quốc gia “ cũng phải “trên nền tảng dân chủ”. Theo Người, quyền và lợi ích của nhân dân là cái gốc của mọi quyền lực, chúng tạo nên sức mạnh của dân tộc để xây dựng xã hội mới, xây dựng đất nước và chế độ mới. Nó cũng là cơ sở của tư tưởng xây dựng nhà nước pháp quyền và xã hội dân chủ, nhân dân.

Bài học xây dựng nhà nước pháp quyền

Tư tưởng về xây dựng nhà nước pháp quyền và xã hội dân chủ nhân dân vừa là nội dung quan trọng của tư tưởng lập pháp của Hồ Chí Minh, vừa là hệ quả trực tiếp của hai nguyên tắc xây dựng thể chế pháp luật ở nước ta. Tư tưởng về xây dựng nhà nước pháp quyền kiểu mới và xây dựng xã hội dân chủ, nhân dân của Người có những nội dung đáng chú ý.

Một là, nhà nước pháp quyền là nhà nước hợp hiến, hợp pháp, thực sự của dân, do dân, vì dân, đảm bảo nền dân chủ của dân, do dân cử ra, “chính quyền từ cấp xã đến chính phủ trung tương đều do dân cử ra”.

Ngay các Điều 1 và 3 của chương mở đầu Hiến pháp năm 1946, đã ghi nhận tư tưởng trên của Hồ Chí Minh, chính thể nước ta là cộng hòa dân chủ nhân dân, trong đó nhân dân là người chủ nắm quyền lực nhà nước “Tất cả quyền bính trong nước là của nhân dân Việt Nam” (Điều 1).

Hai là, pháp luật trong nhà nước cộng hòa dân chủ, nhân dân là pháp luật dân chủ, tự do, thể hiện ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân.

Năm 1947, Người đã viết: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”.

Ba là, Nhà nước có trách nhiệm và chịu trách nhiệm trước dân. Nhà nước phải được kiểm tra, giám sát của nhân dân, của xã hội và Nhà nước cũng như cán bộ, công chức của nó phải trong sạch, không tham nhũng, quan liêu, lãng phí, không được hách dịch với nhân dân. Chưa đầy một tháng sau Cách mạng Tháng Tám dựng nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 17/10/1945, Người đã viết thư gửi các cấp chính quyền phê phán gay gắt thói hư, tật xấu của một bộ phận cán bộ công chức của bộ máy quyền lực lúc đó.

Bốn là, trách nhiệm nghĩa vụ của nhân dân, của công dân đối với nhà nước của mình. Trong Bản Hiến pháp năm 1946, Hồ Chí Minh cho rằng, nghĩa vụ phải đặt trước quyền lợi. Trước nhiệm vụ sống còn của dân tộc lúc đó là bảo vệ nền độc lập dân tộc, mỗi công dân có nghĩa vụ và cũng là quyền lợi là vào quân đội, chiến đấu chống xâm lược. Các nghĩa vụ quan trọng khác là tôn trọng Hiến pháp và tuân theo Hiến pháp, thực hiện chính sách của Chính phủ đề ra.

Bản Hiến pháp năm 1959, ngoài những quy định về nghĩa vụ mà Hiến pháp năm 1946 đã đề ra, công dân còn có các nghĩa vụ lao động, bảo đảm trật tự công cộng, các quy tắc sinh hoạt xã hội, tôn trọng và bảo vệ tài sản công.

Những nội dung cơ bản trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về lập pháp nói trên được thể hiện trong các trước tác mang tính lý luận, đồng thời biểu hiện cả trong thực tiễn lập pháp và thực thi pháp luật của Người với cương vị người lãnh đạo, người đứng đầu Nhà nước mấy chục năm trước. Những tư tưởng đó của Người cần được nghiên cứu, vận dụng một cách nghiêm túc trong việc xây dựng, đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực sự của dân, do dân và vì dân hiện nay.

 

Nguồn: GS. Tương lai, Tạp chí Tia sáng.

[Trở về] [Đầu trang]In bài viết Gửi cho bạn bè

 

Các tin mới khác:
» Lại bàn về bài học từ Hiến pháp 1946 (15.06.2014)
» Nghiên cứu quyền tự do tôn giáo ở Mỹ (15.06.2014)
» Pháp luật về kinh doanh BĐS ở Việt Nam dưới góc độ hoạt động đầu tư nước ngoài (15.06.2014)
» Quyền tiếp cận thông tin - điều kiện thực hiện các quyền con người và quyền công dân (15.06.2014)
» Đổi mới tư duy pháp lý về kinh tế và quyền con người, quyền công dân trong XDPL (15.06.2014)
» Khái niệm quyền công dân (15.06.2014)
» 7 vấn đề cảnh báo rủi ro tác nghiệp trong hoạt động công chứng (15.06.2014)
» Hiến pháp với chủ quyền nhân dân (15.06.2014)
» Pháp luật Việt Nam về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài (15.06.2014)
» Hoàn thiện pháp luật đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam hiện nay (15.06.2014)

Các tin khác:
» Tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh về một bản Hiến pháp dân chủ (15.06.2014)
» Tư tưởng Hồ Chí Minh về lập pháp và thực thi pháp luật (15.06.2014)
» BÀN VỀ "NGUYÊN TẮC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA" (15.06.2014)
» PHÂN CẤP THẨM QUYỀN BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT GIỮA TRUNG ƯƠNG VÀ ĐỊA PHƯƠNG THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ ĐỔI MỚI (15.06.2014)
» Những bất cập trong hoạt động xét xử (05.06.2014)
» MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ XÂY DỰNG VĂN HOÁ KỶ CƯƠNG PHÁP ĐÌNH VÀ ĐỘI NGŨ THẨM PHÁN CHUẨN MỰC ĐƯỢC XÃ HỘI KÍNH TRỌNG (05.06.2014)
» Quốc hội không thể mãi là đơn vị “phục kích” (10.07.2013)
» Nghị quyết lấy ý kiến nhân dân về sửa đổi Hiến pháp (01.01.2013)
» 'Không say sưa với niềm vui thông qua Luật Thủ đô' (30.11.2012)
» Không lo chậm luật khi chưa sửa Hiến pháp (07.11.2012)


Quảng cáo