Bài đọc nhiều nhất
Liên kết
Góp ý XD pháp luật

PHÂN CẤP THẨM QUYỀN BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT GIỮA TRUNG ƯƠNG VÀ ĐỊA PHƯƠNG THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ ĐỔI MỚI

Chủ nhật, 15.06.2014 15:42
Giải quyết vấn đề phân cấp thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật là tìm lời giải đáp cho 2 câu hỏi: cấp nào được quyền ban hành loại văn bản gì và nội dung của mỗi loại văn bản đó

PHÂN CẤP THẨM QUYỀN BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM

PHÁP LUẬT GIỮA TRUNG ƯƠNG VÀ ĐỊA PHƯƠNG

THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ ĐỔI MỚI

                                                                             

ThS. Tạ Ngọc Hải

Viện khoa học tổ chức Nhà nước - Bộ Nội vụ

                                                                    

Đặt vấn đề

- Giải quyết vấn đề phân cấp thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật là tìm lời giải đáp cho 2 câu hỏi: cấp nào được quyền ban hành loại văn bản gì và nội dung của mỗi loại văn bản đó. Thẩm quyền ban hành văn bản và nội dung văn bản ban hành không chỉ là những gì theo quy định của luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (bao gồm Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, sau đây viết là Luật năm 2008 và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND, sau đây viết là Luật năm 2004)mà còn gắn với nhiệm vụ, quyền hạn theo vị trí, chức năng của mỗi cơ quan trong bộ máy nhà nước (ví dụ: khoản 1 điều 12 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định “Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định những vấn đề được Quốc hội giao, sau một thời gian thực hiện trình Quốc hội xem xét, quyết định ban hành luật”. Quy định này không chỉ xác định thẩm quyền, nôi dung ban hành văn bản mà còn thể hiện vị trí, chức năng “là cơ quan thường trực của Quốc hội” của UBTV Quốc hội). Như vậy trên bình diện pháp luật thì xem xét thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật cần có sự kết hợp giữa quy định của luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật với quy định pháp luật về tổ chức nhà nước. Đấy cũng là cách tiếp cận thực hiện nghiên cứu chuyên đề này.  

- Theo chủ đề của chuyên đề (2) thì đối tượng, phạm vi nghiên cứu tập trung vào hai nhóm là văn bản của trung ương và văn bản của địa phương. Ở nhóm thứ nhất, Luật năm 2008 vừa có hiệu lực đâu năm nay (2009) vì vậy việc nghiên cứu xem xét sẽ tập trung vào Luật năm 2004. Tức là trên cơ sở thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cấp trung ương (theo Luật năm 2008) và thực tế áp dụng Luật năm 2004 ở các địa phương tìm ra những cơ sở khoa học (lý luận và thực tiễn) phục vụ cho việc sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của của HĐND và UBND. Đấy là mục tiêu chuyên đề hướng tới.

- Phương pháp được lựa chọn để thực hiện nghiên cứu là phân tích, so sánh từ đó rút ra những kiến nghị theo các nội dung chính của chuyên đề mà cơ quan tổ chức hội thảo đặt ra.

Với quan điểm tiếp cận và mục tiêu và phương pháp như trên, sau đây là nội dung của chuyên đề:

1. Văn bản quy phạm pháp luật và thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của trung ương - địa phương (câu hỏi 1)

- Theo quy định của Luật năm 2008 thì văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Cũng theo Luật năm 2008 thì trung ương có quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật sau đây:

+ Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.

+ Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

+ Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.

+ Nghị định của Chính phủ.

+ Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

+ Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao.

+ Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

+ Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

+ Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước.

+ Nghị quyết liên tịch giữa Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội.

+ Thông tư liên tịch giữa Chánh án Toà án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

- Theo Luật năm 2004 thì văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân là văn bản do Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Luật này quy định, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực trong phạm vi địa phương, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội ở địa phương theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cũng theo Luật năm 2004 thì địa phương có quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật sau đây:

+ Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân được ban hành dưới hình thức nghị quyết.

+ Văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân được ban hành dưới hình thức quyết định, chỉ thị.

- So sánh thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật giữa trưng ương với địa phương theo quy định hiện hành ta thấy có sự khác biệt trên các phương diện như:

+ Số loại văn bản quy phạm pháp luật của địa phương ít hơn của trung ương (2/12 loại văn bản);

+ Chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của trung ương đa dạng hơn địa phương (Ví dụ: Tòa án, Viện kiểm sát hoặc cơ quan chuyên môn thuộc UBND địa phương không có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật);

+ Đối tượng, phạm vi áp dụng văn bản quy phạm pháp luật của địa phương hẹp hơn so văn bản quy phạm pháp luật của trung ương;

+ Mục tiêu của văn bản là điều chỉnh các quan hệ xã hội nhưng theo quy định của các luật hiện hành thì chỉ có các quan hệ xã hội ở địa phương có quy định theo định hướng xã hội chủ nghĩa (phải chăng đã có sự không đồng bộ, thiếu thống nhất trong quy định giữa 2 Luật và nếu chúng ta cũng thống nhất như vậy thì việc cần làm là sửa đổi quy định của Luật 2004 để đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất giữa các quy định pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật).

- Trên bình diện nghiên cứu thì có nhiều cách phân loại văn bản và văn bản quy phạm pháp luật trong đó có cách phân loại văn bản quy phạm pháp luật thành hai nhóm:

+ Các văn bản do cơ quan - tập thể ban hành (ví dụ: Nghị quyết, Nghị định v.v.);

+ Các văn bản do người đứng đầu cơ quan ban hành - cá nhân ban hành (ví dụ: Quyết định, Chỉ thị v.v.).

Từ phân loại trên trở lại với quy định hiện hành của các luật cho thấy:

+ Theo quy định của Luật 2008 thì Quyết định là văn bản quy phạm pháp luật;

+ Theo quy định của Luật 2004 thì cả Quyết định, Chỉ thị đều là văn bản quy phạm pháp luật.

So sánh các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo cách phân loại chủ thể ban hành cho thấy cần có sự thống nhất trong nhận thức và quy định về văn bản quy phạm pháp luật do người đứng đầu (cá nhân) cơ quan ban hành giữa các luật. Ví dụ: có thể sửa đổi quy định tại khoản 2 điều 1 Luật năm 2004 theo hướng “Văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân được ban hành dưới hình thức quyết định”

2. Nội dung văn bản quy phạm pháp luật của trung ương - địa phương (câu hỏi 2)

a) Trên cơ sở quy định của Luật năm 2004 có thể chia nội dung văn bản quy phạm pháp luật của địa phương ban hành thành 3 nhóm.

- Nhóm văn bản do HĐND, UBND cấp tỉnh ban hành. Các văn bản thuộc nhóm này có nội dung là:

+ Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh được ban hành để quyết định chủ trương, chính sách, biện pháp trong các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, xã hội, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, tài nguyên và môi trường, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, thi hành pháp luật, xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính trên địa bàn tỉnh quy định tại các điều 11, 12, 13, 14, 15, 16 và 17 của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan của cơ quan nhà nước cấp trên

+ Nghị quyết của Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc trung ương được ban hành để quyết định chủ trương, chính sách, biện pháp quy định tại khoản 1 Điều này và chủ trương, chính sách, biện pháp khác về xây dựng, phát triển đô thị trên địa bàn thành phố quy định tại Điều 18 của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan của cơ quan nhà nước cấp trên).

+ Quyết định của Uỷ ban nhân dân tỉnh được ban hành để thực hiện chủ trương, chính sách, biện pháp trong các lĩnh vực kinh tế, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thuỷ lợi, đất đai, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, quản lý và phát triển đô thị, thương mại, dịch vụ, du lịch, giáo dục và đào tạo, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, y tế, xã hội, khoa học và công nghệ, tài nguyên và môi trường, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, thi hành pháp luật, xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính trên địa bàn tỉnh quy định tại các điều 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94 và 95 của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan của cơ quan nhà nước cấp trên

+ Quyết định của Uỷ ban nhân dân thành phố trực thuộc trung ương được ban hành để thực hiện chủ trương, chính sách, biện pháp quy định tại khoản 1 Điều này và thực hiện chủ trương, chính sách, biện pháp khác về xây dựng, quản lý và phát triển đô thị trên địa bàn thành phố quy định tại Điều 96 của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan của cơ quan nhà nước cấp trên.

+ Chỉ thị của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh được ban hành để quy định biện pháp chỉ đạo, phối hợp hoạt động, đôn đốc và kiểm tra hoạt động của cơ quan, đơn vị trực thuộc và của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp dưới trong việc thực hiện văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, của Hội đồng nhân dân cùng cấp và quyết định của mình.

- Nhóm văn bản do HĐND, UBND cấp huyện ban hành. Các văn bản thuộc nhóm này có nội dung là:

+ Nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện được ban hành để quyết định chủ trương, biện pháp trong các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, xã hội, đời sống, khoa học và công nghệ, tài nguyên và môi trường, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, thi hành pháp luật, xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính trên địa bàn huyện quy định tại các điều 19, 20, 21, 22, 23, 24 và 25 của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan của cơ quan nhà nước cấp trên

+ Nghị quyết của Hội đồng nhân dân quận được ban hành để quyết định chủ trương, biện pháp quy định tại khoản 1 Điều này và chủ trương, biện pháp khác về xây dựng, phát triển đô thị trên địa bàn quận quy định tại Điều 26 của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan của cơ quan nhà nước cấp trên.

+ Nghị quyết của Hội đồng nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh được ban hành để quyết định chủ trương, biện pháp quy định tại khoản 1 Điều này và chủ trương, biện pháp khác về xây dựng, phát triển thị xã, thành phố thuộc tỉnh quy định tại Điều 27 của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan của cơ quan nhà nước cấp trên.

+ Nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện thuộc địa bàn hải đảo được ban hành để quyết định chủ trương, biện pháp quy định tại khoản 1 Điều này và chủ trương, biện pháp khác về xây dựng, phát triển hải đảo quy định tại Điều 28 của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan của cơ quan nhà nước cấp trên.

+ Quyết định của Uỷ ban nhân dân huyện được ban hành để thực hiện chủ trương, biện pháp trong các lĩnh vực kinh tế, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thuỷ lợi, đất đai, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, thương mại, dịch vụ, du lịch, giáo dục, y tế, xã hội, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, tài nguyên và môi trường, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, thi hành pháp luật, xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính trên địa bàn huyện quy định tại các điều 97, 98, 99, 100, 101, 102, 103, 104, 105, 106 và 107 của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan của cơ quan nhà nước cấp trên.

+ Quyết định của Uỷ ban nhân dân quận được ban hành để thực hiện chủ trương, biện pháp quy định tại khoản 1 Điều này và thực hiện chủ trương, biện pháp khác về xây dựng, phát triển đô thị trên địa bàn quận quy định tại Điều 109 của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan của cơ quan nhà nước cấp trên.

+ Quyết định của Uỷ ban nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh được ban hành để thực hiện chủ trương, biện pháp quy định tại khoản 1 Điều này và thực hiện chủ trương, biện pháp khác về xây dựng, phát triển thị xã, thành phố thuộc tỉnh quy định tại Điều 108 của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan của cơ quan nhà nước cấp trên.

+ Quyết định của Uỷ ban nhân dân huyện thuộc địa bàn hải đảo được ban hành để thực hiện chủ trương, biện pháp quy định tại khoản 1 Điều này và thực hiện chủ trương, biện pháp khác về xây dựng, phát triển hải đảo quy định tại Điều 110 của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan của cơ quan nhà nước cấp trên.

+ Chỉ thị của Uỷ ban nhân dân cấp huyện được ban hành để quy định biện pháp chỉ đạo, kiểm tra hoạt động của cơ quan, đơn vị trực thuộc và của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp xã trong việc thực hiện văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, của Hội đồng nhân dân cùng cấp và quyết định của mình

- Nhóm văn bản do HĐND, UBND cấp xã ban hành. Các văn bản thuộc nhóm này có nội dung là:

+ Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã, thị trấn được ban hành để quyết định chủ trương, biện pháp trong các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, xã hội, đời sống, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, bảo vệ tài nguyên và môi trường, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, thi hành pháp luật, xây dựng chính quyền địa phương trên địa bàn xã, thị trấn quy định tại các điều 29, 30, 31, 32, 33 và 34 của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan của cơ quan nhà nước cấp trên.

+ Nghị quyết của Hội đồng nhân dân phường được ban hành để quyết định chủ trương, biện pháp quy định tại khoản 1 Điều này và chủ trương, biện pháp khác về xây dựng, phát triển đô thị trên địa bàn phường quy định tại Điều 35 của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan của cơ quan nhà nước cấp trên.

+ Quyết định của Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn được ban hành để thực hiện chủ trương, biện pháp trong các lĩnh vực kinh tế, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thuỷ lợi, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, giáo dục, y tế, xã hội, văn hoá, thể dục thể thao, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, thi hành pháp luật trên địa bàn xã, thị trấn quy định tại các điều 111, 112, 113, 114, 115, 116 và 117 của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan của cơ quan nhà nước cấp trên.

+ Quyết định của Uỷ ban nhân dân phường được ban hành để thực hiện chủ trương, biện pháp quy định tại khoản 1 Điều này và thực hiện chủ trương, biện pháp khác về xây dựng, phát triển đô thị trên địa bàn phường quy định tại Điều 118 của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan của cơ quan nhà nước cấp trên.

+ Chỉ thị của Uỷ ban nhân dân cấp xãđược ban hành để quy định biện pháp chỉ đạo, kiểm tra hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý trong việc thực hiện văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, của Hội đồng nhân dân cùng cấp và quyết định của mình.

- So sánh quy định của Luật năm 2004 với quy định của Luật tổ chức HĐND và UBND cho thấy có sự kết hợp giữa quy định về đơn vị hành chính với quy định nội dung văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND ở các đơn vị hành chính cụ thể là:

+ Đơn vị hành chính cấp tỉnh có tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Theo đó có Nghị quyết của HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Quyết định của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Chỉ thị của UBND cấp tỉnh. Theo số liệu thống kê tính đến 30 tháng 8 năm 2009 chúng ta có 58 tỉnh và 5 thành phố trực thuộc trung ương.

+ Đơn vị hành chính cấp huyện có huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Theo đó có Nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện; Nghị quyết của Hội đồng nhân dân quận; Nghị quyết của Hội đồng nhân dân thị xã, thànhphố thuộc tỉnh; Nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện thuộc địa bàn hải đảo. Quyết định của Uỷ ban nhân dân huyện; Quyết định của Uỷ ban nhân dân quận; Quyết định của Uỷ ban nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Quyết định của Uỷ ban nhân dân huyện thuộc địa bàn hải đảo. Chỉ thị của Uỷ ban nhân dân cấp huyện. Theo số liệu thống kê tính đến 30 tháng 8 năm 2009 chúng ta có 693 đơn vị hành chính cấp huyện trong đó có 556 huyện, 47 quận, 43 thị xã, 47 thành phố thuộc tỉnh.  

+ Đơn vị hành chính cấp xã có xã, phường, thị trấn.Theo đó có Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã, thị trấn; Nghị quyết của Hội đồng nhân dân. Quyết định của Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn; Quyết định của Uỷ ban nhân dân phường.Chỉ thị của Uỷ ban nhân dân cấp xã.Theo số liệu thống kê tính đến 30 tháng 8 năm 2009 chúng ta có 11.832 đơn vị hành chính cấp xã trong đó có 9.113 xã, 1.340 phường và 623 thị trấn;

Tuy nhiên sự kết hợp này không đồng bộ và dường như là thiếu cơ sở khoa học khi để quận thành một nhóm độc lập trong khi đó lại đưa thị xã, thành phố thuộc tỉnh thành một nhóm và cũng tương tư như vậy khi quy định nội dung của Chỉ thị lại gộp đơn vị hành chính thành 3 nhóm cấp tỉnh, huyện, xã. Mặt khác theo tinh thần Nghị quyết trung ương 5 khóa X thì cần tổ chức hợp lý chính quyền địa phương theo hướng “phân biệt rõ những khác biệt giữa chính quyền nông thôn và chính quyền đô thị” và hiện đang thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường. Do vậy cần có sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất, đồng bộ hơn nữa trong xây dựng và ban hành thực hiện các quy định pháp luật về tổ chức nhà nước và thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương. Trên bình diện nghiên cứu thì chính quyền đô thị gồm thành phố, quận, phường v.v.; chính quyền nông thôn gồm tỉnh, huyện, xã. Khi sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương nên xem xét, tham khảo các kết quả nghiên cứu đã có về tổ chức chính quyền địa phương.

b) So sánh quy định về lĩnh vực HĐND ra nghị quyết, UBND ra quyết định trong quy định của Luật năm 2004

Bảng 1

Lĩnh vực HĐND tỉnh ra nghị quyết

Lĩnh vực UBND tỉnh ra quyết định

Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh được ban hành để quyết định chủ trương, chính sách, biện pháp trong các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, xã hội, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, tài nguyên và môi trường, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, thi hành pháp luật, xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính trên địa bàn tỉnh quy định tại các điều 11, 12, 13, 14, 15, 16 và 17 của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan của cơ quan nhà nước cấp trên.

Quyết định của Uỷ ban nhân dân tỉnh được ban hành để thực hiện chủ trương, chính sách, biện pháp trong các lĩnh vực kinh tế, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thuỷ lợi, đất đai, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, quản lý và phát triển đô thị, thương mại, dịch vụ, du lịch, giáo dục và đào tạo, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, y tế, xã hội, khoa học và công nghệ, tài nguyên và môi trường, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, thi hành pháp luật, xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính trên địa bàn tỉnh quy định tại các điều 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94 và 95 của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan của cơ quan nhà nước cấp trên.

Phải chăng HĐND không cần ra Nghị quyết trên các lĩnh vực: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thuỷ lợi, đất đai, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, quản lý và phát triển đô thị, thương mại, dịch vụ, du lịch, giáo dục và đào tạo?

Bảng 2

Lĩnh vực HĐND huyện ra nghị quyết

Lĩnh vực UBND huyện ra quyết định

Nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện được ban hành để quyết định chủ trương, biện pháp trong các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, xã hội, đời sống, khoa học và công nghệ, tài nguyên và môi trường, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, thi hành pháp luật, xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính trên địa bàn huyện quy định tại các điều 19, 20, 21, 22, 23, 24 và 25 của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân

Quyết định của Uỷ ban nhân dân huyện được ban hành để thực hiện chủ trương, biện pháp trong các lĩnh vực kinh tế, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thuỷ lợi, đất đai, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, thương mại, dịch vụ, du lịch, giáo dục, y tế, xã hội, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, tài nguyên và môi trường, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, thi hành pháp luật, xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính trên địa bàn huyện quy định tại các điều 97, 98, 99, 100, 101, 102, 103, 104, 105, 106 và 107 của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân

 Phải chăng UBND huyện với vai trò là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương có quyền ra quyết định thực hiện chủ trương, biện pháp trên các lĩnh vực: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thuỷ lợi, đất đai, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, thương mại, dịch vụ, du lịch mà không cần có nghị quyết của HĐND về các lĩnh vực này?

Bảng 3

Lĩnh vực HĐND xã ra nghị quyết

Lĩnh vực UBND xã ra quyết định

Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã, thị trấn được ban hành để quyết định chủ trương, biện pháp trong các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, xã hội, đời sống, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, bảo vệ tài nguyên và môi trường, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, thi hành pháp luật, xây dựng chính quyền địa phương trên địa bàn xã, thị trấn quy định tại các điều 29, 30, 31, 32, 33 và 34 của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân

Quyết định của Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn được ban hành để thực hiện chủ trương, biện pháp trong các lĩnh vực kinh tế, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thuỷ lợi, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, giáo dục, y tế, xã hội, văn hoá, thể dục thể thao, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, thi hành pháp luật trên địa bàn xã, thị trấn quy định tại các điều 111, 112, 113, 114, 115, 116 và 117 của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân

Phải chăng đã có sự thiếu đồng bộ, không thống nhất trong quy định của Luật năm 2004 và Luật tổ chức HĐND và UBND?

Tôi tin là mỗi người trong chúng ta đều có cầu trả lời hợp lý cho các câu hỏi trên. Còn với tôi thì chí cũng là việc đồng thời sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức HĐND và UBND với Luật năm 2004./.

 Bài trình bày tại Hội thảo khao học năm 2009 - Bộ Tư pháp

[Trở về] [Đầu trang]In bài viết Gửi cho bạn bè

 

Các tin mới khác:
» BÀN VỀ "NGUYÊN TẮC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA" (15.06.2014)
» Tư tưởng Hồ Chí Minh về lập pháp và thực thi pháp luật (15.06.2014)
» Tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh về một bản Hiến pháp dân chủ (15.06.2014)
» Tư tưởng lập pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh (15.06.2014)
» Lại bàn về bài học từ Hiến pháp 1946 (15.06.2014)
» Nghiên cứu quyền tự do tôn giáo ở Mỹ (15.06.2014)
» Pháp luật về kinh doanh BĐS ở Việt Nam dưới góc độ hoạt động đầu tư nước ngoài (15.06.2014)
» Quyền tiếp cận thông tin - điều kiện thực hiện các quyền con người và quyền công dân (15.06.2014)
» Đổi mới tư duy pháp lý về kinh tế và quyền con người, quyền công dân trong XDPL (15.06.2014)
» Khái niệm quyền công dân (15.06.2014)

Các tin khác:
» Những bất cập trong hoạt động xét xử (05.06.2014)
» MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ XÂY DỰNG VĂN HOÁ KỶ CƯƠNG PHÁP ĐÌNH VÀ ĐỘI NGŨ THẨM PHÁN CHUẨN MỰC ĐƯỢC XÃ HỘI KÍNH TRỌNG (05.06.2014)
» Quốc hội không thể mãi là đơn vị “phục kích” (10.07.2013)
» Nghị quyết lấy ý kiến nhân dân về sửa đổi Hiến pháp (01.01.2013)
» 'Không say sưa với niềm vui thông qua Luật Thủ đô' (30.11.2012)
» Không lo chậm luật khi chưa sửa Hiến pháp (07.11.2012)
» Sửa Hiến pháp là việc hệ trọng quốc gia (18.09.2012)
» Sở hữu đất đai "quyền thiêng liêng của dân" (13.02.2012)
» Vụ Tiên Lãng và an toàn pháp lý (13.02.2012)
» Nghị định về giao dịch bảo đảm – một số vấn đề cần quan tâm (31.12.2011)


Quảng cáo