Bài đọc nhiều nhất
Liên kết
Văn học nghệ thuật

Đôi nét tính cách người phụ nữ xứ Nghệ qua làn điệu dân ca

Thứ năm, 11.07.2013 16:16
Ai biết nước sông Lam răng là trong là đục Mới biết sống cuộc đời răng là nhục là Vinh Thuyền em lên thác xuống ghềnh Nước non là nghĩa, là tình ai ơi...

Đó là dân ca của Nghệ Tĩnh hay còn gọi là dân ca xứ Nghệ, chủ yếu vẫn là hát ví và giặm. Dân ca xứ Nghệ như một làn điệu hội tụ “khí chất” của nhiều làn điệu dân ca, có chút đa tình của quan họ, chút bâng khuâng, vương buồn của ca Huế, chút sâu lắng của ca trù và chất khỏe khoắn, rắn rỏi của dân ca Nam bộ. Nhưng trên hết, ví - giặm mang “khí chất” của chính người Nghệ, của những “mô, tê, răng, rứa” đậm hồn xứ sở và là “đặc sản” tinh thần của bao thế hệ người con trên dải đất Lam Hồng.

Trong vô vàn giá trị có thể khơi dậy từ điệu ví - giặm thì đâu đó vẫn không thể không nhắc đến “cá tính Nghệ ” của người người dân Nghệ Tĩnh, đặc biệt nét riêng hiếm thấy của người phụ nữ xứ Nghệ. Phụ nữ vẫn luôn là đề tài muôn thưở đối với thi ca, nhạc họa... nhưng có lẽ để hiểu sâu sắc nhất về tính cách cô gái xứ Nghệ thì không đâu bằng tìm hiểu qua các làn điệu ví - giặm trữ tình.

Có nhà thơ từng viết về gái Nghệ khá thú vị, xin trích một đoạn thơ:

Gọi em, em nạt: cấy chi

Thương êênh em ngứt trôốc đi cho vừa

Ăn cơm, ăn hết chẳng trừa

Phải yêu nhau lắm mới lưa cái nồi

Khi thẹn sang sảng em cười

Khi yêu em nói cả đời chưa hun...

Đó là người con gái xứ Nghệ: chút mộc mạc, chất phác, cứng cỏi của vùng đất đầy nắng và gió, của đất nghèo đã nuôi dưỡng và tôi luyện cho con gái xứ Nghệ những đức tính nổi trội: Lầm lỳ trong đau khổ, gan góc trong đấu tranh, cần cù, chịu khó trong lao động, đoàn kết, nhân đức, thủy chung, …

Ngày nay, với một kho tàng dân ca đồ sộ mà những nhà nghiên cứu, nhạc sĩ như Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao, Lê Hàm, Vi Phong... đã sưu tầm quả là một gia sản quý đóng góp cho kho tàng văn hóa dân gian Việt Nam, đồng thời là bằng chứng đầy đủ và phong phú để tìm hiểu và nghiên cứu về tính cách người Nghệ. Ở đây, chúng tôi không đi sâu vào tìm hiểu thể ví - giặm mà từ các làn điệu này để hiểu hơn về một “cái tôi” rất riêng của người phụ nữ xứ Nghệ vốn khó có thể tìm thấy ở địa phương nào khác. Có thể thấy:

1. Người phụ nữ xứ Nghệ vốn xốc vác, chăm chỉ, thông hiểu đạo lý

Với gia đình, đó là công cha nghĩa mẹ:

Cá bống chặt trước (đầu), chặt đuôi

Tôm he bóc vỏ mà nuôi mẹ già

Mỗi đêm thắp một đèn trời

Cầu cho cha mẹ ở đời với con

Không cần đến những lời phán truyền về đạo đức, “Phụ tử tình thâm„ đã đi vào lòng người như lời thủ thỉ, nhắn gửi, chia sẻ, vừa như giáo huấn, vừa như tâm tình về đạo làm con với cha mẹ: Phụ tử tình thâm công thầy rồi nghĩa mẹ/ Đừng tiếng tăm chi nặng lời/ Đừng cả tiếng dài hơi/ Nói mẹ cha sao nên/ Cãi mẹ thầy sao phải.

Với nghĩa vợ chồng, người con gái xứ Nghệ có thể vượt mọi chông gai:

Nghe tin anh đau đầu chưa khá

Em băng ngàn bẻ lá về xông

Ước mần răng cho trọn đạo vợ chồng

Đổ mồ hôi em quạt, trộ gió lồng em che

Tình cảm ấy còn đậm đà, mộc mạc hơn khi:

Râu tôm nấu với rọt bù

Chồng chan vợ húp gật gù khen ngon

Sự kết hợp giữa “râu tôm” “rọt bù” trong cái thiếu thốn về vật chất với cái “gật gù„ (chứ không phải chỉ là gật đầu) giàu có trong đời sống vợ chồng, đã toát lên sự đồng cảm sâu sắc, chia sẻ, động viên đầy ân nghĩa.

Đối với con cái, người phụ nữ nào cũng có thể hy sinh:

- Mấy lâu buôn bán nuôi ai

Mà áo em rách, mà vai em mòn?

- Mấy lâu buôn bán nuôi con

Áo rách mặc áo, vai mòn mặc vai...

Với tình làng nghĩa xóm, tính cộng đồng còn được ví như:

Xung quanh những họ cùng hàng

Coi nhau như ngọc như vàng mới nên

Cuộc sống vốn bần hàn, vất vả mưu sinh, người phụ nữ xứ Nghệ được xem là không biết làm duyên, làm dáng. Cũng có thể: Khăn nâu áo vải là thường/ Cốt trau cho được luân thường là hơn.

Không phải là phản đối sự điểm trang, trau chuốt, mà như cách nói ngày nay là không được chú ý lắm. Nhưng về cơ bản thì đúng. Họ từng nói “Điểm trang nhã nhặn là hay”, nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh chớ đừng: Mẹ em hết gạo treo nồi/ Em còn trang điểm chạc lưng sồi làm chi.

Người phụ nữ xứ Nghệ truyền thống thường mặc áo nâu, yếm trắng, váy lụa hoặc vải màu nâu, màu đen. Trang phục cũng đã toát lên lối sống cần kiệm, đạm bạc, khắc khổ, ăn chắc mặc bền của người phụ nữ lao động. Điều này khác với cô gái ở chốn kinh kỳ của xứ Huế với màu sắc cầu kỳ, trang nhã, có nón bài thơ, áo dài màu sáng như tím, trắng, hồng nhạt... hay cô gái xứ Kinh Bắc với áo tứ thân, nón quai thao, đôi guốc mộc đầy duyên dáng và đằm thắm.

Vì lẽ đó mà người phụ nữ xứ Nghệ cũng đầy dung dị, chuộng cái thực chất, nội dung mà:

- Thiếu chi hoa lý, hoa lài

Mà em đi chuộng hoa khoai trái mùa?

- Hoa khoai chịu nắng, chịu mưa

Hoa lài, hoa lý chưa trưa đã rầu!

Chất phác là vậy, mộc mạc là vậy, điều đó ai cũng biết. Nhưng không phải không có cái tinh tế, mặn mà, mà có khi cũng rất đàn bà: Đêm khuya trống đánh cái thùng/ Gió hiu hiu thổi cây tùng tùng reo/ Năm canh thức suốt năm canh/ Đèn liu riu ngọn gối chềnh vềnh nghiêng.

2. Tình yêu đôi lứa của cô gái xứ Nghệ thật mộc mạc, dứt khoát nhưng không kém phần sâu sắc, nặng nghĩa thủy chung

Ban đầu tình yêu cũng đã có thể mãnh liệt như sét đánh:

Thấy anh như thấy mặt trời

Chói chang khó ngó, trao lời khó trao

Người con gái xứ Nghệ vốn thiết thực, giản dị nên trong tình cảm họ cũng rất thẳng thắn. Cô gái có thể khích lệ chàng trai:

Yêu ta thì nói với ta

Khi trăng đang tỏ khi hoa đang thì

Nếu có thương rồi cũng phải rõ ràng:

Đã thương thì thương cho chắc

Đã trục trặc thì trục trặc cho luôn

Đừng như con thỏ đứng đầu truông

Khi vui giỡn bóng khi buồn bỏ đi

Trong khi người Bình - Trị - Thiên lại có cách nói nhẹ nhàng hơn:

Có thương thì thương cho chắc cho chắn

Cho xoắn cho vó, cho có lòng thương...

Người con gái xứ Nghệ ghét sao những anh chàng giả dối, chỉ tô vẽ màu mè để che đi những cái không có thực ở bên trong: Không thương em nữa thì thôi/ Đừng có xức phấn, bôi vôi mà nồng.

Rất quen, ta từng bắt gặp đâu đó “cá tính Nghệ” ở nữ sĩ Hồ Xuân Hương:

Này của Xuân Hương đã quẹt rồi

Có phải duyên nhau thì thắm lại

Đừng xanh như lá, bạc như vôi

Còn khi không thích chàng trai, cô gái cũng nói “toạc móng heo”:

Khi nào đá nổi bông chìm

Muối chua chanh mặn anh mới tìm được em

Nhưng có ai có thể biết, một khi đã “bén duyên” rồi thì vì tình, người con gái xứ Nghệ cũng sẵn sàng chấp nhận:

Tưởng là cha mẹ đập một vài ba roi

Ai ngờ đập đến chín chục, một trăm roi

Em bò lăn bò lóc, em khóc đứng khóc ngồi

 Anh ơi dù bầm lưng máu chảy vẫn trọn đời yêu anh

Và nếu có thể cụ thể nỗi lòng, thì hình ảnh rộng lớn, hùng vĩ của quê hương mới có thể so sánh hết với tình yêu sâu sắc của người con gái:

Bao giờ Ngàn Hống hết cây

Sông Rum hết nước em đây mới hết tình

Hay:

Trót cùng chàng dan díu bấy lâu

Dù chàng có ngược Ngàn Phố, Ngàn Sâu em cũng

Đôi khi lại là hình ảnh rất đỗi đời thường:

Cơm hai bát, bát ăn bát để

Đũa hai đôi, đôi đứng đôi nằm

Ví dù thầy mẹ có đập chín chục một trăm

Đập rồi em đứng dậy, em vẫn nhất tâm thương chàng

Cho nên, thật khó có gì có thể cản trở, kể cả cái chết:

Mai tay cầm tám gương vàng

Thác đi thì thác buông chàng không buông

Yêu nhau đem quách nhau đi

Công cha nghĩa mẹ sau thì hãy hay

Người con gái xứ Thanh cũng nói về tình yêu nhưng đầy lãng mạn và tình tứ như vùng Kinh Bắc:

Trên đầu em giắt bông huê lài

Thề rằng không bẻ cho ai một cành

Em trót yêu anh bẻ cả cho anh

Về nhà dối mẹ rằng cành hoa rơi

Tình yêu của người con gái xứ Nghệ là vậy, sâu sắc, thủy chung nhưng đầy cương quyết. Có thể vì yêu đến tận cùng, không tính toán, không so đo, không nửa vời nên dẫu có buộc phải chia ly thì cũng:

Đến duyên em cha mẹ ép phải lấy chồng

Em yêu anh như rứa có mặn nồng tuỳ anh

Tình yêu đến độ “như rứa” và có lỡ duyên rồi thì“mặn nồng tùy anh”, có chút lạnh lùng và đầy dứt khoát. Trong khi đó, khác với con gái xứ Nghệ, người con gái Bình - Trị - Thiên lại cảm thương cho tình cảnh ngang trái:

Đến duyên thì mẹ cha buộc em phải lấy chồng

Trách nhau chi rứa nữa cho cực lòng nhau thêm.

Ta còn bắt gặp trong phong cách dân ca xứ Thanh (qua hò sông Mã, hát ghẹo, hát khúc) lại mang nhiều nét gần với phong cách dân ca miền Bắc, thanh thoát và đầy sự trau chuốt. Trong tình yêu lại có cái gì dào dạt và mênh mông:

Lòng em thương nhớ ước ao

Mười đêm em ngắm ông sao cả mười

Bóng trăng lấp ló bên đồi

Tưởng anh vượt núi đến chơi với tình

Nhưng cũng đừng vì thế mà nghĩ cô gái xứ Nghệ tuyệt tình, vì “dẫu lìa ngỏ ý, còn vương tơ lòng”:

Dù chàng ba bẩy mặt con

Thiếp đôi ba đứa ta vẫn còn nhớ nhau

Đôi khi, tình yêu đó cũng khiến cho người con gái tủi phận, đau đớn nhưng nỗi đau cũng rất cá tính.

Cha mẹ em cho em sang chiếc đò nghiêng

Đò trùng triềng đôi mạn, em ôm duyên trở về

Cuộc lỡ duyên được ví với “chiếc đò nghiêng, trùng triềng đôi mạn” với cái vô hình, trừu tượng “ôm duyên trở về” đầy xúc động, xót xa. Hay bởi cái thực bụng dễ tin của người con gái xứ Nghệ bỗng gặp cảnh phũ phàng, éo le buốt lòng khi:

Tưởng là mình thật một lòng

Để ta xóc chỉnh, ta hòng trời mưa

Nỏ hay, mình ở đong đưa

Chỉnh xóc mặc chỉnh, trời mưa mặc trời

“Nỏ hay”là từ ngữ địa phương, ẩn chứa trong đó sự vỡ òa về lòng tin, dẫn đến“mặc chỉnh, mặc mưa” cho sự “đong đưa” của người thương. Đó cũng là nét riêng của người Nghệ Tĩnh. Vì với người Nghệ:

Lên chùa tháo ván nhổ đinh

Đốt chùa không tội bằng mình bỏ ta

Quả thấy tình yêu cô gái xứ Nghệ cũng tựa như đức tính vốn có: mãnh liệt sâu sắc nhưng trầm lặng và kín đáo, của những con người giàu tình cảm nhưng không bộc lộ ồn ào, hời hợt, không dàn trải mà sâu sắc bền bỉ, giản dị, chân thành và đầy thẳng thắn, cứng cỏi.

3. Người phụ nữ xứ Nghệ dẫu không được dùi mài kinh sử, nhưng rất tinh thông chữ nghĩa, dí dỏm và trọng nghĩa khí

Dân gian từng biết đến những nghệ nhân hát dân ca một thời như Phan Bội Châu, Nguyễn Du, Cao Thắng… là lớp người đại diện cho một thế hệ các nho sĩ, sĩ phu, trong đó có những người trở thành danh nhân của dân tộc như Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Huy Hổ, Phan Bội Châu, thì cũng từng biết đến thế hệ nữ nhi như cô Ba Xuân, cô Ban, bà Dũng Thơn, bà cháu Ban, bà chánh Diên, cô Thanh, chị đồ Khoa,… Họ không những đã góp phần làm nên tính bác học trong dân ca mà qua đó, ta còn thấy được tài trí, tinh thông chữ nghĩa của người phụ nữ xứ Nghệ.

Thường trong những đêm trăng gió mát, khi việc đồng áng được xếp lại, khung cửu được dựng lên, đó cũng là lúc phường hát ví (ví phường vải), phường đan… xuất hiện. Những tưởng những người phụ nữ sáng sáng còn lặn lội trên cánh đồng vất vả là thế nhưng đến với cuộc hát, họ thực sự là những nghệ sỹ, nghệ nhân tài hoa, thông minh và sắc sảo. Cuộc hát không còn đơn thuần là giao duyên, giải trí mà còn là cuộc đọ sức, khoe tài, đấu trí đầy kịch tính giữa bên nam và nữ. Âu đó cũng là đặc tính của người Nghệ nói chung.

Dân gian từng biết đến những câu hát có lối chơi chữ của chị nho Xuân trong đêm phường vải:

Mấy khi người ngọc hội đồng

Trăng in thẻ bạc, gió rung tiếng vàng

Mấy chữ: ngọc, đồng, vàng, bạc, trăng và gió chỉ gói gọn trong 2 câu hát ngắn ngủi. Hay câu hát tưởng như rất dân gian nhưng vẫn đậm chất bác học:

Đá có rêu bởi vì nước đứng

Núi bạc đầu là tại sương sa

Sợ mẹ bằng đất, sợ cha bằng trời

Thấy anh em muốn trao lời

Sợ chòm mây bạc giữa trời mau tan

Cô gái Nghệ Tĩnh vốn yêu thơ ca, con nhà nông có, con nhà khoa bảng cũng có, khi hát đố sách, đố chữ, có khi hát đố về thực tế:

Truyện Kiều anh thuộc đã lâu,

Đố anh đọc được một câu hết Kiều

Có khi là câu đố đối hóc búa hơn:

Năm con ngựa cột cồn Ngũ Mã

Chín con rồng nằm Cửu Long Giang

Chàng mà đối được, có lạng vàng em trao...

Cũng có lúc là một câu đố về lễ, đặt đám con trai vào một tình huống cực kỳ nan giải:

Đồn rằng anh học đã cao

Hỏi chị dâu rớt giếng, anh nắm chỗ nào kéo lên.

Kéo chị dâu một thuở kẻo chết oan con người

Có anh không biết làm gì cả, đành la làng:

Nắm đầu thì khổ

Nắm cổ thì không nên

Nắm chân tay thì lỗi niềm huynh đệ

Vậy thì anh cứ van làng là hơn!

Nhiều khi còn khiến cho các vị có tên trên bảng vàng phải sững sờ thua cuộc, nháo nhác kêu cứu:

Ai về nhắn với thân phụ cho mau

Anh hùng chết đuối giữa bàu thuyền quyên

Nhắc đến ngôn từ bác học của dân ca xứ Nghệ, đã có nhiều nghiên cứu cho thấy có quan hệ mật thiết với ngôn ngữ của các tác phẩm cổ điển thời trung đại Việt Nam như Truyện Kiều của Nguyễn Du; truyện Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự, thơ văn Nguyễn Công Trứ...

Chẳng hạn, trong Truyện Kiều có câu:

Chén hà sánh giọng quỳnh tương

Dải là hương lộn, bình gương bóng lồng

Ta bắt gặp trong hát phường vải với lối “hát mời” tuy đã thêm bớt để phù hợp:

Chén ngà sánh giọng quỳnh tương

Mời chàng nho sĩ văn chương bước vào

Nhưng cũng có những câu rất khó mà biết giữa các phường chị và Truyện Kiều của Nguyễn Du, ai vay mượn của ai, khi mà:

Vầng trăng ai xẻ làm đôi

Nửa in gối chiếc nửa soi dặm đường

 (Truyện Kiều)

Sáng tác dân gian cũng có câu:

Vầng trăng ai xẻ làm đôi

Đường trần ai vẽ, ngược xuôi hỡi chàng?

Bên cạnh một hình ảnh đầy trữ tình và giàu hình tượng, đôi khi ta còn bắt gặp một gái Nghệ đầy tinh nghịch, hóm hỉnh khi ra đề cho đối phương:

Con rồng kia phải bệnh ngáp dài

Hỏi chàng quân tử uống bài thuốc chi?

Chàng trai cũng phải tinh ý, dí dỏm lắm mới có thể đối được:

 Hai củ nhân sâm, một củ hoàng kỳ

 Ăn vào nó khỏi, uống thì nó thôi

Cũng có khi nhân một buổi làm đồng, đám thanh niên nam nhìn thấy chị em đang lội dưới ruộng, liền buông lời trêu chọc:

Ra đây anh hợt một xào

Lạch này coi thử chỗ nào cạn sâu

Tưởng rằng cô gái sẽ e thẹn nín lặng, nào ngờ các cô gái cũng không phải tay vừa, đáp trả: Lạch này chỗ cạn chỗ sâu/ Sa chân cũng dễ ngập đầu ơ anh.

Cũng về hình ảnh người phụ nữ Việt Nam, khác với địa phương khác, hình ảnh người phụ nữ xứ Nghệ lại có tính cách cứng cỏi và mạnh mẽ. Để được giải phóng, họ dám phát biểu, đương đầu với những giáo điều.

Người ta hay chê kẻ đứng núi này trông núi nọ, nhưng người con gái xứ Nghệ lại cương nghị đến mức:

Trèo lên Rú Bụt, trụt xuống Khe Giao

Đứng núi này trông núi nọ, núi mô cao em trèo!

Khi ao ước về hạnh phúc lứa đối cũng không phải bình thường, mà phải là:

Chiều chiều bay ngả về tây

Nữ nhi đang đợi những tay anh hùng

Cho nên, với bản tính mạnh mẽ, trước thế sự nước non rối rắm, người phụ nữ xứ Nghệ cũng luôn sẵn sàng sát cánh cùng các đấng mày râu “đội trời đạp đất”:

Đồn chàng khởi mộ cần vương

Thiếp xin đội gạo gánh lương theo chàng

Đúng là con gái xứ Nghệ “quen xứ Nghệ quen lâu, nhưng bén rồi thì sâu lắng, quen xứ Nghệ… mà tình sâu nghĩa nặng”.

Thế hệ nối tiếp thế hệ, phụ nữ xứ Nghệ bao đời vẫn là những người phụ nữ giàu đức hy sinh, sâu sắc, cứng cỏi, quyết đoán và đầy ân nghĩa thủy chung, son sắt. Một thế hệ phụ nữ bước ra từ những khúc hát dân ca, đến hình ảnh của một nữ sĩ Hồ Xuân Hương, của “nữ kiệt đất Hồng Lam”(1)Trần Thị Trâm, của những người phụ nữ kiên trung như Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Thị Nhã, Nguyễn Thị Phúc, Nguyễn Thị Xắn, Nguyễn Thị Thiu … và ngày nay là biết bao nữ nghệ sỹ, trí thức, doanh nhân… đã góp phần làm rạng danh cho non sông gấm vóc xứ Nghệ.

Tuy nhiên, hiểu xưa để nhìn về nay, từ cá tính chung và riêng của người Nghệ, có thể thấy rõ những hạn chế của phụ nữ xứ Nghệ thời nay, đa phần vẫn tồn tại tư tưởng bảo thủ, thiếu tự tin, ngại thay đổi, chậm thay đổi trước những biến động của xu thế mới, khiến cho chị em chưa thực sự phát huy hết khả năng và tiềm lực vốn có của mình. Nghệ An đang tiến sâu vào hội nhập - phát triển, để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh nhà, rõ ràng rất cần sự chung tay, góp sức của người phụ nữ, những doanh nhân, những nhà quản lý giỏi. Vì vậy, những phẩm chất truyền thống tốt đẹp của phụ nữ xứ Nghệ cần tiếp tục được gìn giữ và phát huy hơn nữa.

Chú thích

(1) Danh hiệu “Nữ kiệt đất Hồng Lam” , “Tiểu Trưng” do cụ Phan Bội Châu phong tặng.

Tài liệu tham khảo

(1)Nguyễn Nhã Bản, Phan Thị Vẽ: Chơi chữ trong thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh, Ngôn ngữ, số 2.

(2) Nguyễn Nhã Bản (Chủ biên), Ngô Văn Cảnh, Phan Xuân Đạm, Nguyễn Thế Kỷ (2001), Bản sắc văn hóa của người Nghệ Tĩnh (Trên dẫn liệu ngôn ngữ), Nxb Nghệ An.

(3) Lê Văn Hảo, Vài nét về sinh hoạt của hát Giặm và hát Ví, Tạp chí Đại học số 34/1963.

(4) Ninh Viết Giao (1961) Hát phường vải, Nxb Văn học, Hà Nội.

(5) Ninh Viết Giao (1985),Ca dao Nghệ Tĩnh, Nxb Sở Văn hóa Thông tin.

(6)Lê Hàm, Hoàng Thọ, Thanh Lưu (2000), Âm nhạc dân gian xứ Nghệ, Nxb Nghệ An.

(7) Trường Đại học sư phạm Vinh (1985), Kỷ yếu Hội nghị Văn học dân gian miền Trung lần thứ I và Hội nghị Văn học dân gian Nghệ Tĩnh.

Trần Lan

[Trở về] [Đầu trang]In bài viết Gửi cho bạn bè

 

Các tin mới khác:
» MƯỜI BÔNG HOA TRINH LIỆT NGÃ BA ĐỒNG LỘC (04.06.2014)
» Tổ quốc và mẹ… (10.06.2014)
» Nhà thơ Phan Cung Việt: Có một thời như thế (10.06.2014)

Các tin khác:
» Mùa xuân nhớ Bác (20.01.2013)
» THƠ TẶNG NGƯỜI ĂN MÀY (Nguyễn Duy) (20.01.2013)
» Chống tham ô lãng phí (20.01.2013)
» XUẤT XỨ KHÚC HÁT SÔNG QUÊ (17.03.2012)
» Khúc hát sông quê & cảm nhận (17.03.2012)
» Nơi địa linh sinh người tuấn kiệt (15.12.2011)
» CHÙA HƯƠNG TÍCH (13.06.2011)
» Hà Tĩnh trong dòng chảy ngàn năm.Tg: Bùi Minh Huệ (13.06.2011)
» Tình yêu người Nghệ qua một bài thơ (13.06.2011)
» Tính cách người Nghệ.Tg: Vũ Ngọc Khánh (13.06.2011)

Quảng cáo