Bài đọc nhiều nhất
Liên kết
Hành chính

Công khai kết luận thanh tra - Những vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Thứ sáu, 18.01.2013 23:00
Kết luận thanh tra là một khâu quan trọng trong hoạt động thanh tra, là cơ sở để Đoàn thanh tra, người ra quyết định thanh tra thực hiện quyền kết luận, kiến nghị trong hoạt động thanh tra.

Lời nói đầu
 
Kết luận thanh tra là một khâu quan trọng trong hoạt động thanh tra, là cơ sở để Đoàn thanh tra, người ra quyết định thanh tra thực hiện quyền kết luận, kiến nghị trong hoạt động thanh tra. Kết luận thanh tra được xây dựng dựa trên cơ sở báo cáo kết quả thanh tra, ý kiến giải trình của đối tượng thanh tra và ý kiến của các cơ quan, đơn vị liên quan (nếu có). Theo quy định của pháp luật, kết luận thanh tra phải được công khai theo các hình thức được pháp luật quy định. Đây là nguyên tắc quan trọng trong hoạt động thanh tra - hoạt động thanh tra phải đảm bảo yêu cầu công khai, dân chủ. Công khai kết luận thanh tra và công khai trong hoạt động thanh tra sẽ minh bạch hóa các mối liên hệ giữa cơ quan thanh tra với các tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan trọng hoạt động thanh tra, hướng các mối quan hệ này phát triển theo chiều hướng tích cực, bổ trợ cho hoạt động thanh tra, qua đó nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động thanh tra. Trong bối cảnh hiện nay, khi công khai, minh bạch trở thành một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của hoạt động hành chính thì việc thực nhiện công khai kết luận thanh tra càng có vai trò và ý nghĩa quan trọng.
 
Trong thời gian qua, việc thực hiện công khai kết luận vẫn còn những tồn tại, hạn chế như: các cơ quan thanh tra chưa thực hiện việc cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời về kết quả hoạt động của các Đoàn thanh tra cho các cơ quan thông tấn, báo chí; hình thức công khai kết luận thanh tra trong phạm vi hẹp, chủ yếu thông qua việc tổ chức họp báo nhằm thông tin về quá trình tiến hành thanh tra và kết quả thanh tra; việc công bố kết luận thanh tra tại nơi được thanh tra rất hạn chế… Những tồn tại, hạn chế nêu trên là do các văn bản pháp luật quy định về công khai kết luận thanh tra còn chồng chéo, mâu thuẫn; một bộ phận cán bộ, công chức còn chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của việc thực hiện công khai kết luận thanh tra dẫn đến biểu hiện né tránh, không cung cấp thông tin cho báo chí…
 
Để giải quyết những bất cập nêu trên, cần có sự tổng kết, đánh giá khách quan, khoa học, toàn diện những mặt làm được, những tồn tại, hạn chế trong việc thực hiện công khai kết luận thanh tra, từ đó đề xuất những giải pháp đổi mới, nâng cao việc thực hiện công khai kết luận thanh tra nhằm đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của các cơ quan thanh tra trong tình hình mới.
 
Để giúp cán bộ, công chức trong và ngoài ngành Thanh tra có thêm thông tin về vấn đề công khai kết luận thanh tra, Viện Khoa học Thanh tra ra Số Thông tin chuyên đề “Công khai kết luận thanh tra - Những vấn đề đặt ra trong thực tiễn”.
 
Đây là kết quả nghiên cứu Đề tài khoa học cấp cơ sở do đồng chí Trịnh Văn Toàn - Trưởng phòng Tổng hợp, Vụ I Thanh tra Chính phủ làm chủ nhiệm, đề tài đã được nghiệm thu năm 2010.
 
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!
 
Thông tin Khoa học Thanh tra
                                                              và Chống tham nhũng
 
 
 
 
 Chương I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾT LUẬN THANH TRA VÀ CÔNG KHAI KẾT LUẬN THANH TRA
I. Khái niệm chung về Kết luận thanh tra và việc công khai Kết luận thanh tra
 
1. Khái niệm thanh tra, hoạt động thanh tra
 
Thanh tra là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước, là hoạt động kiểm tra, xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân; được thực hiện bởi một cơ quan chuyên trách theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực của hoạt động quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân.
 
Hoạt động thanh tra là phương thức thể hiện vị trí vai trò và chức năng của các cơ quan thanh tra nhà nước. Hoạt động thanh tra theo quy định của pháp luật bao gồm: xây dựng chương trình, kế hoạch thanh tra; quyết định việc thanh tra, tiến hành thanh tra trên thực tế; báo cáo kết quả thanh tra, kết luận thanh tra và xử lý kết luận thanh tra. Hoạt động thanh tra được các cơ quan nhà nước tiến hành trên cơ sở hoạt động thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành. Các cơ quan thanh tra tiến hành trên cơ sở chương trình, kế hoạch thanh tra đã được thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp phê duyệt hoặc khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật, theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao (thanh tra đột xuất).
 
Như vậy, hoạt động thanh tra không chỉ giới hạn là hoạt động thanh tra kinh tế - xã hội được thực hiện bởi các cơ quan thanh tra nhà nước mà hoạt động thanh tra còn được thể hiện dưới nhiều hình thức như thanh tra trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo; thanh tra trách nhiệm việc thực hiện pháp luật về thanh tra, thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng.
 
2. Về Kết luận thanh tra
 
Kết luận thanh tra là “văn bản có tính pháp lý kết thúc một cuộc thanh tra của Đoàn thanh tra hoặc thanh tra viên, phản ảnh những kết quả thanh tra: đưa ra những đánh giá, nhận xét về ưu, khuyết điểm của đối tượng thanh tra trong việc thực hiện pháp luật, chính sách, kế hoạch nhà nước, nhiệm vụ được giao; đề xuất, kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc xử lý đối với cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật; sửa đổi, bổ sung cơ chế chính sách, pháp luật”.
 
Kết luận thanh tra được xây dựng dựa trên cơ sở báo cáo kết quả thanh tra, ý kiến giải trình của đối tượng thanh tra và ý kiến tham gia các cơ quan, đơn vị liên quan (nếu có).Do vậy, kết luận thanh tra là văn bản quan trọng nhất của cuộc thanh tra.
 
3. Về công khai Kết luận thanh tra
 
Hoạt động thanh tra phải đảm bảo yêu cầu công khai, dân chủ. Theo đó, việc thanh tra phải có quyết định thanh tra và được công bố công khai với sự có mặt của đối tượng thanh tra, để đối tượng thanh tra biết trước khi tiến hành thanh tra. Bằng quyết định thanh tra và công bố, giao quyết định đó cho đối tượng thanh tra, hoạt động thanh tra đã thực hiện công khai về cả nội dung, thời hạn, thời hiệu thanh tra, công khai thành phần Đoàn thanh tra.
 
Yêu cầu dân chủ được bảo đảm bằng việc các quyền của đối tượng thanh tra và Đoàn thanh tra được tôn trọng thực hiện: thanh tra có quyền chất vấn, đối tượng thanh tra có quyền chứng minh; thanh tra có quyền nhận xét, đánh giá tình hình và ưu điểm, khuyết điểm của đơn vị được thanh tra; đối tượng thanh tra có quyền giải trình; thanh tra có quyền kết luận thanh tra; đối tượng thanh tra có quyền giải trình hoặc khiếu nại kết luận thanh tra... Đối tượng thanh tra có quyền tố cáo những hành vi mà họ cho là trái pháp luật của Đoàn thanh tra, các thành viên Đoàn thanh tra.
 
II. Một số vấn đề về việc công khai Kết luận thanh tra
 
1. Quy định pháp luật về công khai kết luận thanh tra
 
Vấn đề công khai kết luận thanh tra đã được quy định trong Luật Thanh tra và cụ thể hóa trong các văn bản hướng dẫn của Thanh tra Chính phủ, đặc biệt là hai văn bản Quy chế hoạt động của Đoàn Thanh tra và Quy trình tiến hành một cuộc thanh tra. Đồng thời được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác như: Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Kế toán, Luật Kiểm toán Nhà nước…
 
Luật Thanh tra 2010 đã quy định cụ thể hơn tính chất công khai về thông tin của Kết luận thanh tra. Tuy nhiên, những quy định trong Luật Thanh tra 2010 cần phải có hướng dẫn chi tiết, cụ thể việc công khai Kết luận thanh tra để các cơ quan thanh tra thực hiện thống nhất trên thực tế.
 
Bên cạnh các văn bản nêu trên, quy định về danh mục bí mật nhà nước trong ngành Thanh tra được quy định tại Điều 1 của Quyết định số 588/2004/QĐ-BCA(A11) ngày 25/6/2004 của Bộ trưởng Bộ Công an.
 
2.  Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Chính phủ về công khai kết luận thanh tra, kiểm tra
 
Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí nhấn mạnh phải nâng cao chất lượng hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán vừa phải đảm bảo tính công khai, minh bạch, dân chủ trong kiểm tra, thanh tra, kiểm toán. Ban Chấp hành Trung ương đặc biệt nhấn mạnh phải công khai kết quả xử lý của các đoàn kiểm tra liên ngành. Đây là vấn đề rất đáng quan tâm thực hiện của các đoàn kiểm tra, thanh tra.
 
Ủy ban Kiểm tra Trung ương - Cơ quan kiểm tra, giám sát thi hành kỷ luật của Đảng công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng các kỳ họp, xem xét, thi hành kỷ luật các cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành có hành vi vi phạm pháp luật.
 
Luật Thanh tra, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Kế toán, Luật Kiểm toán nhà nước cùng với những chỉ đạo mang tính đổi mới, đột phá quyết liệt của Đảng và Chính phủ trong việc công khai, minh bạch công tác thanh tra, kiểm tra chính là những cơ sở pháp lý rất quan trọng để hoạt động thanh tra nói chung và hoạt động của các đoàn thanh tra nói riêng chủ động tiến hành việc công khai các kết luận thanh tra, góp phần thực hiện có hiệu quả mục đích của thanh tra.
 
3. Một số tồn tại, hạn chế trong việc công khai Kết luận thanh tra
 
Theo quy định của pháp luật về thanh tra, thành phần tham dự buổi công bố kết luận thanh tra chỉ giới hạn gồm: thủ trưởng cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân là đối tượng thanh tra, đại diện các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, điều này phần nào đã hạn chế tác dụng, hiệu quả của việc công khai kết luận thanh tra trong thời gian vừa qua.
 
Thời gian qua, Cơ quan Thanh tra Chính phủ đã tổ chức thường xuyên các cuộc họp báo và bước đầu đã nhận được sự hoan nghênh, phản hồi tương đối tốt từ báo giới. Song qua thực tế cho thấy việc tổ chức họp báo cũng còn một số điểm tồn tại như: thành phần báo chí tham dự còn hạn chế; nội dung họp báo còn chung chung, thường chú trọng vào thông tin về kết quả các mặt công tác của cơ quan, của ngành mà chưa đi sâu vào các cuộc thanh tra, các vụ việc cụ thể. Do vậy, nhiều ý kiến từ phía báo chí cho rằng nội dung họp báo còn ít “thông tin” thiếu tính thời sự, chưa đáp ứng, thoả mãn được nhu cầu của báo chí cũng như của độc giả…
 
Theo quy định, Thanh tra Chính phủ tổ chức họp báo định kỳ vào sáng thứ 5, tuần cuối cùng của tháng. Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của hoạt động thanh tra (thông thường thời gian tiến hành một cuộc thanh tra từ 45 đến 60 ngày) do trong một tháng số cuộc thanh tra kết thúc và ban hành kết luận thường ít nên nội dung họp báo không có nhiều thông tin về các cuộc thanh tra do Thanh tra Chính phủ đang tiến hành. Để khắc phục tình trạng này và nhằm nâng cao chất lượng các các cuộc họp báo, Tổng Thanh tra đã có chỉ đạo thời gian họp báo mỗi quý một lần, quy định như vậy là phù hợp với thực tế hiện nay, tuy nhiên, cần tăng cường các cuộc họp báo đột xuất, đặc biệt khi có những nội dung đang được dư luận quan tâm. Việc công khai thông tin trên Cổng thông tin điện tử Thanh tra Chính phủ hiện nay còn chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu của thông tin báo chí.
 
Đặc biệt, quy định của pháp luật hiện nay còn thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, có điểm mâu thuẫn nhất là việc phân định Kết luận thanh tra thuộc loại tài liệu “Mật”, hay “không Mật” giữa Quyết định số 588/2004/QĐ-BCA(A11) ngày 25/6/2004 của Bộ trưởng Bộ Công an về danh mục bí mật nhà nước độ mật trong ngành thanh tra và Quyết định số 2016 /2007/QĐ-TTCP ngày 26/9/2007 của Thanh tra Chính phủ ban hành Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí và Luật Phòng, chống tham nhũng.
 
Xuất phát từ nguyên nhân trên nên thời gian trước đây, một số kết luận thanh tra có quy mô lớn, tính chất phức tạp Thanh tra Chính phủ thường sử dụng dấu “Mật” khi Thủ tướng Chính phủ chưa có ý kiến chính thức; thời gian gần đây, dấu “Mật” ít được sử dụng, hầu hết các kết luận thanh tra khi ban hành đều sử dụng dòng chữ “tài liệu chưa phổ biến”. Đây cũng chính là nguyên nhân cơ bản của việc tiếp cận các thông tin liên quan đến kết luận thanh tra khi chưa có ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ trong thời gian qua gặp nhiều khó khăn, vướng mắc… dẫn đến phát sinh nhiều cách hiểu khác nhau của các phóng viên, nhà báo khi tiếp cận “tài liệu chưa phổ biến” này.
 
Quy chế phát ngôn của Thanh tra Chính phủ hiện đã bộc lộ một số điểm bất cập so với yêu cầu thực tế như: phạm vi phát ngôn, vai trò, quyền hạn của người phát ngôn, nội dung họp báo; làm cho việc cung cấp thông tin nói chung và các thông tin về kết luận thanh tra nói riêng, sự phối hợp trao đổi thông tin chưa đáp ứng được yêu cầu của cơ quan báo chí.
 
Về nhận thức, các cơ quan thanh tra và báo chí cũng còn những điểm cần phải tuyên truyền, nâng cao nhận thức hơn nữa. Đối với các cơ quan thanh tra, vẫn còn hiện tượng nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ về vai trò, tầm quan trọng của báo chí đối với công tác thanh tra cho nên chưa tích cực, chủ động phối hợp với báo chí thậm chí còn có tâm lý ngại ngần, né tránh báo chí. Ngược lại về phía báo chí cũng còn nhiều trường hợp chưa nhận thức rõ vai trò vị trí, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan thanh tra, chưa nắm vững quy định về pháp luật nói chung và pháp luật về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng nói riêng, vì thế chưa quan tâm phối hợp chặt chẽ với cơ quan thanh tra trong quá trình tác nghiệp và đưa tin bài về vụ việc có liên quan đến hoạt động của ngành thanh tra. Vì thế trong quá trình tác nghiệp chưa chú trọng phối hợp trao đổi với Thanh tra Chính phủ. Một số báo chưa thực sự cân đối trong việc thông tin giữa hai mảng tích cực và tiêu cực, những nhân tố điển hình, tích cực chưa được khai thác sâu, tuyên truyền rộng rãi. Trái lại, một số báo lại mang nặng về mục tiêu thu hút bạn đọc nên đưa nhiều thông tin về các mặt tiêu cực. Thông tin về các cuộc thanh tra, đôi khi báo chí không tránh khỏi được việc sa đà quá mức, có những thông tin thiếu chính xác, đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động thanh tra.
 
4. Việc công khai kết quả giám sát, thanh tra, kiểm tra tại một số nước trên thế giới
 
4.1. Việc công khai kết quả thanh tra tại Thụy Điển
 
Thanh tra Quốc hội Thụy Điển là mô hình phổ biến ở các nước Bắc Âu, Nam Mỹ và một số nước khác. Thanh tra Quốc hội là cơ quan của Quốc hội, thực hiện quyền giám sát tối cao của cơ quan quyền lực đối với hoạt động của các cơ quan hành pháp và tư pháp. Nó hoạt động theo nguyên tắc độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân không được can thiệp vào hoạt động của Thanh tra Quốc hội.
 
Các kết luận, kiến nghị của Thanh tra Quốc hội Thụy Điển ngoài việc được gửi đến cơ quan có thẩm quyền, còn được công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin truyền thông. Và có thể khẳng định sức mạnh hiệu lực của Thanh tra Quốc hội chủ yếu dựa vào quyền lực của Quốc hội và sức ép của dư luận, tiếng nói của cơ quan báo chí.
 
4.2. Việc công khai kết quả giám sát hành chính tại Trung Quốc
 
Nguyên tắc giám sát và đối tượng giám sát được quy định rõ. Theo đó, cơ quan giám sát hành chính thực hiện việc giám sát chỉ tuân theo pháp luật; thực sự cầu thị, coi trọng chứng cứ từ kết quả điều tra; mọi người đều bình đẳng trong chấp hành kỷ luật hành chính; kết hợp giáo dục với xử lý vi phạm; kết hợp giữa điều tra giám sát với cải tiến phương pháp công tác; đề cao vai trò phát hiện thông qua việc giám sát của nhân dân; công khai, minh bạch trong hoạt động giám sát. Đối tượng giám sát là các tổ chức, các cơ quan thuộc Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương; các cán bộ, công chức; quan chức của chính phủ bao gồm cả các quan chức được giao nhiệm vụ quản lý các doanh nghiệp nhà nước.
 
Tuy nhiên, qua nghiên cứu cho thấy, pháp luật về giám sát hành chính của Trung Quốc cũng chưa có những quy định cụ thể về việc công khai kết quả điều tra, cũng như các kiến nghị thông qua điều tra của cơ quan giám sát hành chính và Uỷ ban kiểm tra kỷ luật Trung Quốc.
 
4.3. Việc công khai kết quả thanh tra tại Hàn Quốc
 
Ban kiểm toán và thanh tra (gọi tắt là BAI) là cơ quan Hiến định mà chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của nó được quy định bởi Hiến pháp. Theo Điều 97 Hiến pháp, Ban kiểm toán và thanh tra được thành lập dưới quyền hạn trực tiếp của Tổng thống và là cơ quan kiểm toán và thanh tra cao nhất ở Hàn Quốc. Bởi vì ngoài cơ quan này, còn có các cơ quan kiểm toán và các tổ chức thanh tra được thành lập ở các cơ quan hành chính, các cơ quan tự quản ở địa phương và các tổ chức được Nhà nươc trao quyền.
 
Mỗi năm BAI phải chuẩn bị 1 bản báo cáo về kiểm toán - thanh tra các hoạt động của Chính phủ để trình Tổng thống và Quốc hội. Đồng thời, cũng chuẩn bị 1 bản báo cáo về kiểm toán - thanh tra các hoạt động của các đơn vị có vốn đầu tư của Nhà nước để trình Chính phủ. Ngoài ra, BAI còn định kỳ trình Tổng thống các báo cáo sơ bộ về các phát hiện quan trọng trong kiểm toán, thanh tra; cung cấp, giải trình các thông tin về kiểm toán, thanh tra khi Quốc hội yêu cầu... Báo cáo về kiểm toán - thanh tra các hoạt động của Chính phủ để trình Tổng thống và Quốc hội được gửi xin ý kiến các cơ quan có liên quan. Đây là hình thức công khai, tuy nhiên trong phạm vi rất hẹp. Đối với các báo cáo sơ bộ về các phát hiện quan trọng trong kiểm toán, thanh tra thì cũng công khai trong phạm vi nhất định.
 
Pháp luật của Hàn Quốc quy định, nếu việc quản lý hành chính của một cơ quan nhà nước có ảnh hưởng đến lợi ích của người dân do cơ quan này vi phạm pháp luật, hoặc có liên quan đến một hành vi tham nhũng nào đó, thì bất cứ người công dân nào từ 20 tuổi trở lên cũng có quyền đề nghị Ban Kiểm toán và thanh tra tiến hành thanh tra cơ quan này, bằng cách đệ đơn kiến nghị trong đó có chữ ký của một số lượng nhất định những công dân do Nghị định của Tổng thống quy định. Đối với các cuộc thanh tra theo yêu cầu thanh tra của người dân, thực chất là việc giải quyết khiếu nại theo quy trình một cuộc thanh tra, thì kết quả thanh tra sẽ được công khai trên phạm rộng. BAI hoặc người đứng đầu một cơ quan nhà nước sẽ kết luận về một cuộc điều tra trong vòng 60 ngày kể từ ngày có quyết định tiến hành điều tra và thông báo cho người yêu cầu điều tra về kết quả điều tra trong vòng 10 ngày, kể từ ngày có kết luận điều tra. Kết quả thanh tra phải được công khai đối với các đối tượng có liên quan và có thể công khai trên các phương tiện truyền thông khi được cơ quan đã tiến hành thanh tra công bố chính thức kết quả thanh tra.
 
Chương II
THỰC TRẠNG VIỆC CÔNG KHAI KẾT LUẬN THANH TRA CỦA THANH TRA CHÍNH PHỦ TRONG THỜI GIAN QUA
 
I. Thực trạng việc công khai kết luận thanh tra của Thanh tra Chính phủ những năm gần đây
 
1. Kết quả công tác thanh tra
 
- Lĩnh vực thanh tra kinh tế - xã hội
 
Từ năm 2002 đến nay, thực hiện theo quyết định Quyết định 273/QĐ-TTg ngày 12/4/002 của Thủ tướng Chính phủ trong lĩnh vực đầu tư xây dựng và quản lý, sử dụng đất đai và Kế hoạch 05-KH/TW ngày 10/9/2003 của Bộ Chính trị và ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, toàn ngành Thanh tra tập trung thanh tra các dự án lớn, những dự án công trình có dấu hiệu tiêu cực, thanh tra việc quản lý, sử dụng đất đai ở một số tỉnh, thành phố trọng tâm là việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; thanh tra việc chấp hành thực hiện Pháp lệnh tiết kiệm, chống lãng phí ở các cơ quan, đơn vị. Hầu hết các dự án, công trình do Thanh tra Nhà nước tiến hành thanh tra đều là những dự án, công trình trọng điểm về kinh tế- xã hội có vốn đầu tư lớn, do các Tổng công ty 90, 91 làm chủ đầu tư.
 
Qua thanh tra đã phát hiện tình trạng vi phạm pháp luật ở hầu hết các khâu từ chuẩn bị đầu tư đến tổ chức thực hiện và nghiệm thu, thanh quyết toán. Thanh tra Nhà nước đã kiến nghị kịp thời với Chính phủ tăng cường quản lý nhà nước trong các lĩnh vực này. Trên cơ sở đó Chính phủ đã sửa đổi, bổ sung và ban hành các văn bản pháp luật phù hợp với yêu cầu đặt ra hiện nay.
 
- Lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo
 
Trong những năm qua, trước tình hình đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân và những đòi hỏi của dư luận xã hội, căn cứ vào chương trình công tác của Chính phủ, Thanh tra Chính phủ chủ động xây dựng chương trình công tác cho toàn ngành, chỉ đạo, tổ chức thanh tra các cấp phê duyệt chương trình thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, bám sát sự chỉ đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ, tập trung giải quyết những vấn đề nổi cộm, phát sinh trong quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế- xã hội. Bên cạnh đó, Thanh tra Chính phủ cũng thực hiện các vụ việc giải quyết khiếu nại, tố cáo do Thủ tướng Chính phủ giao mà phần lớn là các nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, tồn đọng kéo dài, liên quan đến nhiều lĩnh vực phải mất nhiều thời gian, công sức xem xét giải quyết.
 
Đánh giá chung, công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan hành chính nhà nước thời gian qua đã có nhiều cố gắng, đã giải quyết được một khối lượng lớn các vụ việc phát sinh và nhiều vụ việc phức tạp đặc biệt là ở địa bàn nông thôn, miền núi, hải đảo, biên giới, vùng đồng bào dân tộc, góp phần quan trọng vào việc ổn định tình hình chính trị, giữ vững an ninh, trật tự xã hội trong phạm vi cả nước.
 
- Công tác đấu tranh chống tham nhũng
 
Từ năm 2006 đến nay, ngay sau khi Luật Phòng, chống tham nhũng có hiệu lực, Thanh tra Chính phủ đã tập trung vào việc triển khai thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ về thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng; tập trung nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện thể chế về phòng chống tham nhũng; chỉ đạo các đơn vị trong ngành tổ chức tuyên truyền, phổ biến Luật Phòng, chống tham nhũng sâu rộng trong đơn vị cũng như trong nhân dân; xây dựng trình Chính phủ Đề án phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về phòng, chống tham nhũng; trình Chính phủ ban hành Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020; triển khai hướng dẫn, đôn đốc các địa phương, bộ ngành thực hiện việc kê khai tài sản, thu nhập cá nhân theo quy định.
Thực hiện sự chỉ đạo của Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng Trung ương, Thanh tra Chính phủ đã tích cực triển khai công tác thanh tra, kiểm tra trách nhiệm thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng ở 45 tỉnh, thành phố, ở các bộ, ngành. Thông qua công tác kiểm tra đã giúp cho lãnh đạo các tỉnh, thành phố, các bộ, ngành nhận thức đầy đủ hơn về trách nhiệm và hành động trong việc tổ chức thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Qua thanh tra, kiểm tra đã phát hiện, chấn chỉnh kịp thời nhiều thiếu sót, vi phạm trong việc thực hiện các quy định về công khai, minh bạch; xây dựng chế độ, định mức, tiêu chuẩn; thực hiện chế độ thông tin, báo cáo  Thanh tra Chính phủ về công tác phòng, chống tham nhũng.
 
2. Về việc công bố kết luận thanh tra
 
Thực hiện việc công bố kết luận thanh tra theo quy định của Luật Thanh tra, Nghị định số 41/2005/NĐ-CP ngày 25/3/2005 của Chính phủ và các văn bản khác có liên quan, nhìn chung các kết luận thanh tra đều được Thanh tra Chính phủ công bố kết luận bằng hình thức gửi kết luận cho đối tượng thanh tra. Việc tổ chức hội nghị thường thực hiện khi công bố quyết định thanh tra, dự thảo kết luận thanh, hoặc trong những trường hợp do tính chất của cuộc thanh tra, tính cấp thiết của việc công bố kết luận, Thanh tra Chính phủ mới tổ chức hội nghị công bố kết luận thanh tra.
 
Thực hiện Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của Thanh tra Chính phủ ban hành kèm theo Quyết định số: 2016/2007/QĐ-TTCP ngày 26 tháng 9 năm 2007 của Tổng Thanh tra, Thanh tra Chính phủ tổ chức họp báo định kỳ vào sáng thứ 5, tuần cuối cùng của tháng. Thông thường, trước thời gian họp báo khoảng 01 tuần, Văn phòng Thanh tra Chính phủ phát hành thông báo về việc tổ chức họp báo công bố kết quả hoạt động công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và công tác phòng, chống tham nhũng. Việc cung cấp thông tin của ngành thanh tra dự họp báo hiện nay đã được mở rộng hơn với số lượng 23 cơ quan báo, đài.
 
Về phía Thanh tra Chính phủ tham dự họp báo có đại diện Lãnh đạo Thanh tra Chính phủ, Chánh Văn phòng, đại diện lãnh đạo Cục chống tham nhũng, Trụ sở tiếp công dân của Trung ương Đảng và Nhà nước tại Hà Nội, ngoài ra, tùy theo nội dung hoạt động trong thời gian giữa 2 kỳ họp báo có thể mở rộng thêm thành phần tham dự. Địa điểm tổ chức họp báo đều diễn ra tại Hội trường cơ quan Thanh tra Chính phủ.
Trong buổi họp báo, Chánh Văn phòng Thanh tra Chính phủ cung cấp đầy đủ thông tin tới các phóng viên, nhà báo về tình hình thực hiện nhiệm vụ của Thanh tra Chính phủ, về kết quả các cuộc thanh tra đã có kết luận và ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, nội dung về sai phạm, xử lý về kinh tế, về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan. Bên cạnh đó, trong phạm vi trách nhiệm và tuân thủ việc thực hiện Quy chế phát ngôn, Lãnh đạo Thanh tra Chính phủ cũng thường xuyên cung cấp những thông tin trong phạm vi cung cấp như thời gian dự kiến tiến hành cuộc thanh tra theo kế hoạch, các cuộc thanh tra kinh tế xã hội, thanh tra trách nhiệm trong quản lý nhà nước ở các lĩnh vực và tiến độ một số cuộc thanh tra đang triển khai. Các nội dung kết luận các cuộc thanh tra đã có ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ cũng được đăng tải trên Trang thông tin điện tử của Thanh tra Chính phủ.
 
Thực hiện Quy chế làm việc của Chính phủ, hàng tháng, Thanh tra Chính phủ báo cáo kết quả công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và công tác phòng, chống tham nhũng phục vụ phiên họp thường kỳ của Chính phủ, trong đó có tổng hợp tóm tắt nội dung kết luận các cuộc thanh đã ký ban hành trong tháng (bao gồm cả những kết luận thanh tra Thủ tướng Chính phủ chưa có ý kiến chỉ đạo), về nội dung sai phạm chủ yếu, những kiến nghị xử lý về tài sản, về trách nhiệm của tập thể, cá nhân đối với đối tượng thanh tra và đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới cơ chế chính sách.
 
II - Những thuận lợi, khó khăn, vướng mắc trong việc công khai kết luận thanh tra
 
Hiện nay, công khai, minh bạch đã được xác định là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất trong hoạt động của bộ máy nhà nước và được thể hiện trong nhiều văn bản pháp luật. Ngay từ khi Pháp lệnh Thanh tra ra đời, công khai đã được xác định là một trong những nguyên tắc cơ bản của hoạt động thanh tra. Luật Thanh tra năm 2004 đã tiếp tục khẳng định nguyên tắc này tại Điều 5. Tuy nhiên bên cạnh những mặt thuận lợi, thực tế hiện nay đặt ra không ít những khó khăn, thách thức trong quá trình thực hiện nguyên tắc công khai trong hoạt động thanh tra, cụ thể:
 
- Đối với cơ quan, cá nhân có thẩm quyền: Cơ quan thanh tra nằm trong tổ chức của bộ máy hành chính nhà nước, do vậy, trong tổ chức và hoạt động của mình, cơ quan thanh tra cũng chịu sự điều chỉnh của phương pháp mệnh lệnh quyền uy. Nói cách khác, trong tổ chức và hoạt động của mình ở một khía cạnh nào đó, cơ quan thanh tra phải phục tùng mệnh lệnh cấp trên. Mặc dù theo quy định của Luật Thanh tra năm 2004 nguyên tắc thanh tra “... phải tuân theo pháp luật” theo quy định của Luật Thanh tra 2004 luôn được tôn trọng và áp dụng, nhưng trong quá trình hoạt động không tránh khỏi có những lúc, những nơi hoạt động thanh tra bị tác động bởi những cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm ảnh hưởng đến tính trung thực, khách quan của hoạt động thanh tra. Trong trường hợp này, nguyên tắc công khai sẽ bổ trợ tốt nhất cho các nguyên tắc “phải tuân theo pháp luật”; “đảm bảo khách quan, trung thực trong hoạt động thanh tra”, vì khi đó pháp luật là chuẩn mực, là thước đo, là mệnh lệnh duy nhất trong hoạt động thanh tra.
 
- Đối với cơ quan thanh tra: Một trong những thách thức lớn nhất của cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan thanh tra nói riêng khi thực hiện nguyên tắc công khai đó là những yếu kém, nhược điểm trong tổ chức và hoạt động của mình nhất là những dấu ấn của cơ chế quản lý tập trung, quan liêu vẫn tồn tại. Khi thực hiện nguyên tắc công khai những nhược điểm này sẽ được bộc lộ và ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín, hình ảnh của cơ quan hành chính nhà nước đối với người dân và xã hội. Do vậy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, tinh giản bộ máy, nâng cao chất lượng hoạt động là thách thức lớn nhất của bộ máy hành chính nói chung và cơ quan thanh tra nói riêng để công khai, minh bạch trong hoạt động của mình.
 
- Đối với cán bộ, công chức: thực hiện nguyên tắc công khai sẽ là phương thức tạo ra môi trường làm việc chuyên nghiệp, và tăng tính trách nhiệm khi thực thi chức trách, nhiệm vụ được giao. Nói cách khác, công khai là thách thức để cơ quan thanh tra và cán bộ, công chức trong ngành Thanh tra tự hoàn thiện mình, kết quả cuối cùng là chất lượng, hiệu quả hoạt động được nâng cao.
 
- Đối với người ra quyết định thanh tra: Quyết định thanh tra là văn bản pháp lý quy định trực tiếp quyền hạn, nhiệm vụ của Đoàn thanh tra cũng như quyền, nghĩa vụ của đối tượng thanh tra, của cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân có liên quan. Do vậy, thực hiện nguyên tắc công khai sẽ khiến người ra quyết định thanh tra có trách nhiệm hơn trong việc thực hiện quyền hạn của mình, bởi việc thực hiện quyền hạn này của họ luôn bị giám sát bởi các kênh khác nhau.
 
- Đối với thành viên Đoàn thanh tra: Trong quá trình tiến hành thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra, các thành viên Đoàn thanh tra nhiều khi chịu áp lực từ nhiều phía, nhiều cá nhân, tổ chức sẽ gây sức ép đối với thành viên Đoàn thanh tra. Công khai hoạt động thanh tra sẽ ngăn chặn sự tác động từ những cơ quan, cá nhân có thẩm quyền lên đoàn thanh tra và giúp hoạt động của Đoàn thanh tra được khách quan, trung thực.
 
- Với đối tượng thanh tra: Việc công khai những nội dung trong quyết định thanh tra cho đối tượng thanh tra sẽ bổ trợ đắc lực cho nguyên tắc đảm bảo hoạt động bình thường cho đối tượng thanh tra trong quá trình tiến hành thanh tra. Mặt khác, nguyên tắc công khai cũng tạo điều kiện cho đối tượng thanh tra hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình để phối hợp tốt hơn với Đoàn thanh tra trong quá trình tiến hành thanh tra, giải trình trong quá trình ra kết luận thanh tra. Đây là cơ sở để đối tượng thanh tra tâm phục với kết luận thanh tra. Công khai trong quá trình tiến hành thanh tra còn là tiền đề quan trọng để tạo sức ép với đối tượng thanh tra, buộc họ phải thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ của mình trong kết luận thanh tra.
 
Nói tóm lại, công khai trong hoạt động thanh tra là nguyên tắc quan trọng để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động thanh tra, nâng cao hiệu lực thực hiện kết luận thanh tra. Đồng thời, nguyên tắc công khai còn tạo điều kiện để các nguyên tắc khác của hoạt động thanh tra được thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn. Thực hiện nguyên tắc công khai là phương thức để nâng cao vai trò giám sát của cơ quan có thẩm quyền và toàn xã hội đối với hoạt động thanh tra - một phương thức hữu hiệu để phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực thanh tra. Mặt khác, công khai kết luận thanh tra còn là cơ sở để người dân, xã hội giám sát việc thực hiện kiến nghị, kết luận sau thanh tra, tạo sức ép dư luận lên đối tượng thanh tra và cá nhân, tổ chức có nghĩa vụ thực hiện kết luận thanh tra. Đây là yếu tố quan trọng đảm bảo hiệu quả thực hiện kết luận thanh tra.
 
Chương III
MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI VIỆC CÔNG KHAI KẾT LUẬN THANH TRA ĐỂ GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THANH TRA
 
I- Một số giải pháp để góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả thanh tra
 
1- Nâng cao vai trò, vị trí và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan thanh tra trong việc thực hiện công khai kết luận thanh tra.
 
2- Nâng cao nhận thức cán bộ, thanh tra viên và mọi tầng lớp nhân dân với kết luận thanh tra và công khai kết luận thanh tra.
 
3- Đảm bảo tính công khai, khách quan, dân chủ và khả thi trong việc công khai kết luận thanh tra
 
4- Tăng cường vai trò trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan thanh tra, người ra quyết định thanh tra trong việc công khai kết luận thanh tra.
 
II- Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng việc công khai kết luận thanh tra
 
Đổi mới việc công khai kết luận thanh tra và hình thức công khai. Như trên đã phân tích, các kết luận thanh tra thường được công khai dưới các hình thức là gửi cho đối tượng thanh tra và một phần rất ít được công bố kết luận thanh tra tại nơi được thanh tra. Do vậy, để đảm bảo cho việc công khai kết luận thanh tra được thuận lợi và đúng tinh thần pháp luật thì cần có quy định cụ thể hơn về hình thức bắt buộc phải công khai, tạo điều kiện cho cơ quan tổ chức, cá nhân và nhất là các cơ quan báo chí có thể tiếp cận kết luận thanh tra và giám sát việc thực hiện kết luận, kiến nghị của các cơ quan thanh tra nhà nước nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả của các kết luận, kiến nghị về thanh tra. Bên cạnh đó, cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện quy định về công khai việc xử lý kết luận thanh tra do quy định về vấn đề này còn chưa rõ ràng nên nhiều kết luận, kiến nghị của cơ quan thanh tra sau khi gửi cho cơ quan quản lý nhà nước chậm được xử lý, xử lý không rõ ràng, hoặc những kết luận, kiến nghị không được các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thi hành nghiêm chỉnh, làm giảm hiệu quả công tác thanh tra. Trong thời gian tới, cần trập trung vào một số giải pháp cụ thể sau nhằm nâng cao chất lượng việc công khai kết luận thanh tra.
 
1- Sửa đổi Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước theo hướng thu hẹp phạm vi bí mật nhà nước. Theo đó, cần khẳng định nguyên tắc chung tất cả các văn bản liên quan đến hoạt động nhà nước đều phải công khai. Những thông tin cần phải bí mật phải được quy định rõ mức độ mật, đối tượng, phương thức, hình thức công khai.
 
2- Xây dựng Luật Tiếp cận thông tin trong đó cần quy định rõ quyền tiếp cận thông tin, nguyên tắc tiếp cận thông tin, chủ thể có quyền được yêu cầu cung cấp thông tin; quy định các loại thông tin cần được công khai, thông tin hạn chế tiếp cận và thông tin được tiếp cận theo yêu cầu…
 
3- Bộ Công an, Thanh tra Chính phủ phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan hoàn thiện các quy định về tài liệu công khai trong ngành Thanh tra đảm bảo đồng bộ, thống nhất và giảm thiểu tối đa danh mục bí mật nhà nước, theo đúng tinh thần của Luật Phòng, chống tham nhũng. Theo đó, kết luận thanh tra phải được công khai, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; hình thức công khai bao gồm: thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, đưa lên trang thông tin điện tử, cung cấp theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Đối với các kết luận thanh tra liên quan những vấn đề thuộc bí mật quốc gia, thuộc an ninh quốc phòng, thuộc ổn định kinh tế vĩ mô... cần được bảo quản theo chế độ “Mật” cũng cần được quy định chi tiết, rõ ràng và cụ thể để tránh việc sử dụng dấu “Mật” một cách tuỳ tiện, không đúng chỗ.
 
4- Thanh tra Chính phủ cần nghiên cứu xây dựng: Quy chế phối hợp, cung cấp thông tin cho các cơ quan Trung ương đảm bảo thống nhất thực hiện; xây dựng Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin báo chí cho ngành Thanh tra. Trước mắt thanh tra các bộ, ngành xây dựng Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin theo đúng quy định tại Quy chế phát ngôn ban hành kèm theo quyết định 2010/2007/QĐ-TTCP ngày 29/9/2007 của Tổng Thanh tra để việc cung cấp thông tin có nền nếp, thường xuyên và thống nhất.
 
5- Thanh tra Chính phủ duy trì họp báo 2-3 tháng/lần, mở rộng thành phần báo chí tham dự, ngoài thành phần các cơ quan thông tấn báo, chí như hiện nay cần chú ý đến cả các báo ngành, địa phương có phạm vi phát hành rộng, các tạp chí chuyên ngành có uy tín. Trong các cuộc họp báo cần lựa chọn cung cấp nhiều hơn các thông tin cụ thể liên quan đến các cuộc thanh tra. Tuỳ theo tính chất, mức độ của cuộc thanh tra và tình hình thực tế, có thể họp báo trong quá trình thanh tra để thu hút sự quan tâm, chú ý và ủng hộ của công luận đối với cuộc thanh tra.
 
Trong một số trường hợp nhất định cần nghiên cứu, xem xét mời đại diện một số cơ quan thông tấn, báo chí nước ngoài tại Việt Nam tham dự (nhất là đối với các cuộc thanh tra có yếu tố nước ngoài) nhằm cho công luận trong và ngoài nước hiểu đúng, hiểu đủ về nội dung kết luận thanh tra.
 
6- Nghiên cứu bổ sung việc trao quyền cung cấp tin cho các Vụ trưởng, Cục trưởng, Thủ trưởng đơn vị khác được phát ngôn cung cấp thông tin về lĩnh vực công tác thuộc phạm vi quản lý của mình và chịu trách nhiệm trước thanh tra về việc phát ngôn, cung cấp thông tin nhất là các thông tin liên quan đến kết luận thanh tra. Ngoài việc tổ chức họp báo, việc thông tin về công tác thanh tra, về kết luận thanh tra có thể lựa chọn nhiều hình thức khác như hội thảo, toạ đàm, trao đổi trực tiếp hoặc trả lời phỏng vấn của Lãnh đạo thanh tra.
 
7- Nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra, đặc biệt là Trưởng đoàn thanh tra, cán bộ tham gia Đoàn thanh tra, nhằm hoàn thiện các kỹ năng tổng hợp xây dựng báo cáo đảm bảo kết luận thanh tra chặt chẽ, vận dụng pháp luật chính xác, khách quan.
 
8- Nâng cao chất lượng và nội dung của Cổng thông tin điện tử Thanh tra Chính phủ để thu hút bạn đọc truy cập, tìm kiếm thông tin có liên quan đến công
 
Các tin đã đưa:
 
 
- Vai trò của cơ quan thanh tra trong việc xác định bồi thường thiệt hại do quyết định hành chính và hành vi hành chính gây ra
 
- Những nghĩa vụ chủ yếu và vấn đề đặt ra đối với Việt Nam sau khi phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Chống tham nhũng (Phần 3)
 
- Những nghĩa vụ chủ yếu và vấn đề đặt ra đối với Việt Nam sau khi phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Chống tham nhũng (Phần 2)
 
- Những nghĩa vụ chủ yếu và vấn đề đặt ra đối với Việt Nam sau khi phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Chống tham nhũng (Phần 1)
 
- Các nguyên tắc trong hoạt động thanh tra - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn (Phần 2)
 
- Các nguyên tắc trong hoạt động thanh tra - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn (Phần 1)
 
- Thực trạng và giải pháp hoàn thiện cơ chế xử lý đơn thư của Thanh tra Chính phủ

VIỆN KHOA HỌC THANH TRA

[Trở về] [Đầu trang]In bài viết Gửi cho bạn bè

 

Các tin mới khác:
» Xử “dâm ngôn” thế nào? (03.02.2013)
» Ban Nội chính có thêm hai ủy viên trung ương (05.02.2013)
» Lấn cấn việc bán nhà cho người nước ngoài (21.05.2013)
» Có ai kiếm bằng lái xe quốc tế theo cách này chưa? (22.06.2013)
» Sử dụng bằng lái xe Việt Nam ở nước ngoài (22.06.2013)
» Chuyển đổi bằng lái xe quốc tế (22.06.2013)
» BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG (09.07.2013)

Các tin khác:
» Cấp phép xây dựng: “Dài cổ” chờ... hướng dẫn (07.12.2012)
» Kỷ luật hàng loạt cán bộ trục lợi từ chung cư (07.12.2012)
» Các loại vũ khí siêu tinh vi như trong phim (29.11.2012)
» Tiếp nhận bản đồ bưu chính TQ không có Hoàng Sa (24.11.2012)
» Sắp có hàng loạt chỉ số đo độ hài lòng của dân (17.11.2012)
» Dân sắp biết hết 'ngóc ngách' cải cách hành chính (31.03.2012)
» Toàn văn Luật Tố cáo năm 2011 (có hiệu lực 01/7/2012) (05.03.2012)
» Toàn văn Luật khiếu nại năm 2011 (có hiệu lực 01/7/2012) (05.03.2012)
» SẮC LỆNH SỐ 102/SL-L004 NGÀY 20-5-1957 QUY ĐỊNH QUYỀN LẬP HỘI (05.03.2012)
» NGHỊ ĐỊNH QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH LUẬT SỐ 102-SL/L004 NGÀY 20-05-1957 VỀ QUYỀN LẬP HỘI THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ (05.03.2012)

Quảng cáo