Bài đọc nhiều nhất
Liên kết
Câu chuyện pháp luật

TRĂM NĂM NGHỀ LUẬT & NHỮNG LUẬT SƯ NỔI TIẾNG.

Thứ bảy, 17.11.2012 17:14
Để tôn vinh những luật sư có nhiều cống hiến cho đất nước, VPLS Trương Anh Tú sẽ giới thiệu đến bạn đọc loạt bài viết về những luật sư như tiêu biểu trong suốt chiều dài hơn 100 năm của nghề luật

 

Nghề luật sư đã xuất hiện ở Việt Nam từ rất lâu (1884), những luật sư hành nghề đầu tiên là người có quốc tịch Pháp hoạt động ở Nam kỳ - vùng lãnh thổ thuộc Pháp. Với Sắc lệnh ngày 30/1/1911, nhà cầm quyền Pháp đã mở rộng cho người Việt Nam không có quốc tịch Pháp được làm luật sư. Trải qua nhiều thăng trầm, nghề luật sư Việt Nam đã sản sinh ra nhiều thế hệ luật sư không chỉ giỏi về chuyên môn mà còn có nhiều  đóng góp cho cách mạng nhằm giải phóng cho dân tộc

Để tôn vinh những luật sư có nhiều cống hiến cho đất nước, VPLS Trương Anh Tú sẽ giới thiệu đến bạn đọc loạt bài viết về những luật sư như tiêu biểu trong suốt chiều dài hơn 100 năm của nghề luật. Kỳ đầu tiên là bài viết " Trăm năm nghề luật".

Nghề luật sư nước ta Thời kỳ thuộc Pháp:

Năm 1858, Rigault De Genouilly bắn phá vào cửa biển Đà Nẵng, mở đầu thời kỳ xâm lăng của thực dân Pháp trên đất nước ta. Sau khi xâm lược Nam kỳ, ngày 26 tháng 11 năm 1876, toàn quyền Pháp ban hành Nghị định về việc biện hộ tại toà án cho người Pháp hoặc người Việt mang quốc tịch Pháp. Sau khi thiết lập bộ máy cai trị ở nước ta và toàn cõi Đông dương, thực dân Pháp chia ra 5 xứ để cai trị: Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, Ai Lao, Cao miên. Toàn quyền Pháp ký Sắc lệnh thành lập Đoàn luật sư Sài Gòn và Hà Nội, gồm các luật sư đã tốt nghiệp trường Luật ở Pháp có quốc tịch Pháp. Tiếp đến sắc lệnh ngày 30 tháng 01 năm 1911, nhà cầm quyền Pháp đã mở rộng nghề luật sư không hạn chế chỉ người Pháp và người Việt mang quốc tịch Pháp, mà còn có cả người Việt mang quốc tịch Việt.



Ngày 25 tháng 5 năm 1930, toàn quyền Pháp ký Sắc lệnh tổ chức Luật sư đoàn ở Hà Nội, Sài Gòn và Đà Nẳng. Sắc lệnh này lại mở rộng thêm cho các luật sư không chỉ biện hộ cho thân chủ có quốc tịch Pháp mà cho cả thân chủ không phải là quốc tịch Pháp; không chỉ biện hộ ở tòa án Pháp mà cả toà Nam án. Người Việt Nam đầu tiên làm luật sư là ông Phan Văn Trường, tốt nghiệp trường Đại học Luật ở Pháp và làm luật sư tại Paris .



Phan Văn Trường (1876 - 1933), Người Việt Nam đầu tiên làm luật sư

Phong trào Mặt trận Bình dân ở Pháp (1936 -1939) đã đấu tranh bảo vệ quyền dân chủ ở Pháp, lan rộng ra các nước thuộc địa của Pháp, sau đó mới có luật sư Việt Nam.

Thời kỳ độc lập sau năm 1945:

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời; Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Chính phủ liên hiệp. Ngày 10 tháng 10 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 46/SL về tổ chức các Đoàn luật sư trong nước. Điều thứ 1 của Sắc lệnh ghi nhận: “Các tổ chức các đoàn thể luật sư trong nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vẫn tạm giữ như cũ.. Sắc lệnh ngày 25 tháng 5 năm 1930 quy định những tổ chức ấy vẫn tạm thi hành với các điều sửa đổi sau này”. Những điều sửa đổi bao gồm: điều 5 (Sắc lệnh 25/5/1930) thay bằng điều 3 (Sắc lệnh 46/SL) với những quy định chặt chẽ để được liệt danh vào bảng luật sư tại Tòa Thượng thẩm Hà Nội hay Sài Gòn, đó là: có quốc tịch Việt Nam, không phân biệt nam, nữ; có bằng cử nhân luật; đã làm tập sự trong ba năm (kể từ ngày tuyên thệ) ở một Văn phòng luật sư thực thụ trong nước; có hạnh kiểm tốt; được bằng chứng nhận đã hết hạn tập sự và đủ tư cách làm luật sư thực thụ. Điều 4 của Sắc lệnh quy định về bầu Hội đồng luật sư, hoặc Ban luật sư thực thụ tùy theo địa hạt có mười văn phòng trở lên hay dưới mười văn phòng. Điều 5 của Sắc lệnh quy định những luật sư đã tập sự được mười tám tháng thì Hội đồng luật sư có thể cho phép tạm quản lý một văn phòng.

Có thể nói, Sắc lệnh số 46/SL là sắc lệnh đầu tiên về luật sư của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã thể hiện sự quan tâm của Chính phủ Cách mạng lâm thời và của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với chế định luật sư ở nước ta. Tuy nhiên, việc hành nghề luật sư theo Sắc lệnh số 46/SL chỉ  hạn chế ở Tòa Thượng thẩm Sài Gòn và Hà Nội. Sắc lệnh số 163/SL ngày 23 tháng 2 năm 1946 về tổ chức các Tòa án binh cũng có quy định cho bị cáo có quyền nhờ luật sư bào chữa. Tiếp đến, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Quốc hội thông qua ngày 9 tháng 11 năm 1946, điều 67 ghi nhận: ”Các phiên tòa đều xét xử công khai, trừ trường hợp đặc biệt, người bị cáo có quyền bào chữa lấy hoặc mượn luật sư”. Nhưng hơn một tháng sau, ngày 19 tháng 12 năm 1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ và kéo dài, hòa trong khí thế sôi sục của các tầng lớp dân cư khắp các miền Bắc, Trung, Nam cầm vũ khí chống giặc Pháp xâm lược, nhiều luật sư đã tham gia kháng chiến. Vì vậy, vai trò, vị trí của người luật sư Việt Nam không được thể hiện rõ nét trong giai đoạn này.

Đến năm 1949, để khôi phục lại tình trạng thiếu luật sư, Sắc lệnh số 69/SL ngày 18 tháng 6 năm 1949 được ban hành, quy định chế định bào chữa viên cho các bị cáo tại tòa án. Điều 1 của Sắc lệnh ghi rõ: “Từ nay đến khi nào có thể lệ khác, trước các tòa án thường và tòa án đặc biệt xử việc tiểu hình và đại hình, trừ tòa án binh tại mặt trận, bị can có thể nhờ một công dân không phải là luật sư bào chữa cho. Công dân do bị can đã tự chọn để bênh vực mình phải được ông Chánh án thừa nhận”. Cũng từ Sắc lệnh này, để mở rộng thêm quyền bào chữa, Điều 2 quy định: “Nếu bị can không có ai bênh vực, ông Chánh án có thể, tự mình hay theo lời yêu cầu của bị can, cử một người ra bào chữa cho bị can”. Ngày 22 tháng 12 năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra tiếp Sắc lệnh số 144/SL mở rộng cho người không phải là luật sư cũng được bào chữa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong các vụ án dân sự. Điều 1 Sắc lệnh số 144/SL sửa lại Điều 1 của Sắc lệnh số 69/SL như sau: “Từ nay, trước tòa án việc xử hộ và thương mại, trước các tòa án thường và tòa án đặc biệt xử việc tiểu hình, đại hình, trừ tòa án binh tại mặt trận, nguyên cáo, bị cáo và bị can có thể nhờ một công dân không phải là luật sư bênh vực cho mình. Công dân đó phải được ông Chánh án thừa nhận”.

Sau Hiệp định Genève năm 1954, Việt Nam bị chia cắt hai miền với hai chế độ khác nhau: miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội; miền Nam còn trong vòng kiềm tỏa của đế quốc Mỹ. Ở miền Bắc, ngày 31 tháng 12 năm 1958, Quốc hội thông qua Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Hiến pháp thứ hai), trong đó điều 101 quy định: “Việc xét xử tại các Tòa án nhân dân đều công khai, trừ  trường hợp đặc biệt do luật định. Quyền bào chữa của bị cáo được đảm bảo”.

Ở miền Nam, trường Đại học Luật khoa Huế, Đà Lạt, Sài Gòn đào tạo nhiều cử nhân Luật, một số sinh viên tốt nghiệp cử nhân Luật được đào tạo để trở thành Luật sư và đã hành nghề. Trong các tòa Vi cảnh, tòa Sơ thẩm, tòa Đại hình, tòa Thượng thẩm đều có công tố viện và có luật sư tranh luận, bào chữa bảo vệ thân chủ. Luật sư có quyền tham gia trong giai đoạn điều tra, giai đoạn tranh tụng trước tòa.

Chẳng hạn, trong giai đoạn điều tra sơ vấn, “nếu nghi can yêu cầu được một hay nhiều luật sư dự kiến, cơ quan điều tra phải báo thị bằng mọi cách, kể cả bằng điện thoại cho luật sư biết trước hai giờ để đến dự kiến...” (Điều 40 Bộ Hình sự tố tụng 1972 ban hành theo Sắc luật số 027-TT/SLu ngày 20 tháng 12 năm 1972 của chính quyền Sài Gòn). Cuộc chấp cung sẽ thi hành trước sự hiện diện của luật sư, trừ trường hợp nghi can từ chối có luật sư; sự từ chối này được ghi vào biên bản hỏi cung. Tại Tòa Sơ thẩm tiểu hình, giám định viên có thể hỏi bị can hoặc các bên đương tụng đều có sự hiện diện của dự thẩm và luật sư, trừ trường hợp đặc biệt. Tại Tòa Thượng thẩm, cuộc tranh luận giữa chưởng lý và luật sư của các đương sự được diễn tiến. Sau khi cuộc tranh luận chấm dứt, Phòng Luận tội sẽ nghị án, ngoài sự hiện diện của chưởng lý, các đương sự, luật sư và lục sự  (Điều 203, 204 Bộ Luật Hình sự tố tụng 1972)...

Thời kỳ sau khi thống nhất đất nước:

Năm 1975, chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975 lịch sử, đất nước thống nhất, nghề luật sư Việt Nam, vì nhiều lý do nên chưa tổ chức lại nhưng đến ngày 18 tháng 12 năm 1980, Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua; quyền tự do dân chủ của công dân được khẳng định trong Hiến pháp, trong đó có điều 133 ghi nhận: “Tòa án nhân dân xét xử công khai, trừ trường hợp do luật định. Quyền bào chữa được bảo đảm. Tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị can, bị cáo và các đương sự khác về mặt pháp lý”.

Vì vậy, trong khi chưa có Pháp lệnh về luật sư, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, được sự đồng ý của Bộ Tư Pháp, ngày 30 tháng 4 năm 1984 đã ra Quyết định về tổ chức thành lập Đoàn luật sư Hà Nội. Ngày 18 tháng 12 năm 1987, Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh Tổ chức Luật sư gồm 6 chương, 25 điều, trong đó quy định thành lập các đoàn luật sư ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; xác định Đoàn luật sư là tổ chức nghề nghiệp của luật sư; điều kiện gia nhập Đoàn luật sư; các hình thức giúp đỡ pháp lý của luật sư; quyền và nghĩa vụ của luật sư; thù lao của luật sư, quỹ Đoàn luật sư...Pháp lệnh này là một bước ngoặt quan trọng trong việc tổ chức luật sư phù hợp giai đoạn phát triển kinh tế nhiều thành phần, đổi mới đất nước.

Hơn một năm sau, ngày 21 tháng 2 năm 1989, Hội đồng Bộ trưởng ra Nghị định số 15/HĐBT ban hành Quy chế Đoàn luật sư. Bản Quy chế Đoàn luật sư gồm 6 chương, 46 điều, trong đó, điều 1 ghi rõ: “Đoàn Luật sư được thành lập để giúp công dân và các tổ chức về mặt pháp lý theo quy định của Hiến pháp (...). Đoàn Luật sư có nhiệm vụ bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và các tổ chức, bảo vệ pháp chế và chế độ xã hội chủ nghĩa”.

Nổi bật trong bản Quy chế này là xác định mối quan hệ giữa Đoàn Luật sư với Bộ Tư pháp và các cơ quan nhà nước, với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức xã hội khác (Chương VI).

Ngày 15 tháng 4 năm 1992, Quốc hội thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quyền bào chữa của luật sư được khẳng định. Điều 132: “...Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình. Tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Ngày 25 tháng 7 năm 2001, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh số 37/2001/PL-UBTVQH10. Nội dung Pháp lệnh nổi bật một số điểm quan trọng, trong đó có điều 8, điểm d quy định: không phải là cán bộ, công chức theo quy định pháp luật về cán bộ công chức.

Như vậy, cán bộ công chức không được gia nhập các đoàn luật sư, khác với Pháp lệnh năm 1987: chỉ có những người đang công tác tại các cơ quan chuyên trách bảo vệ pháp chế không được gia nhập Đoàn luật sư, trừ những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy về pháp lý tại các viện nghiên cứu và các trường thuộc các cơ quan đó.

Điểm nổi bật khác: luật sư là người có trình độ đại học Luật và tốt nghiệp khóa đào tạo nghề luật sư ở Việt Nam hoặc nước ngoài được pháp luật Việt Nam công nhận; xác định Đoàn luật sư là tổ chức nghề nghiệp của các luật sư, còn tổ chức hành nghề luật sư là Văn phòng luật sư hoặc Công ty luật hợp danh; trong phạm vi toàn quốc sẽ có một tổ chức luật sư do Chính phủ quy định, kết hợp chặt chẽ việc quản lý của nhà nước với việc tư quản của tổ chức luật sư.



Tự do và bình đẳng là lẽ sống của người luật sư

Ngày 12 tháng 12 năm 2001, Chính phủ ban hành Nghị định số 94/2001/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Luật sư, gồm 8 chương, 43 điều, nêu  rõ về điều kiện hành nghề luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, thù lao luật sư, Đoàn luật sư, quản lý hành ghề luật sư, xử lý vi phạm hành nghề luật sư và việc chuyển tiếp đối với luật sư, Đoàn luật sư (Điều 1).

Ngày 29 tháng 6 năm 2006, Quốc hội ban hành Luật luật sư gồm 9 chương, 94 điều quy định về nguyên tắc, điều kiện, pham vi, hình thức hành nghề, tiêu chuẩn, quyền, nghĩa vụ của luật sư, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, quản lý hành nghề luật sư, hành nghề của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài, luật sư nước ngoài tại Việt Nam...Luật luật sư được mở rộng hơn, đánh dấu bước phát triển mới trong lịch sử phát triển nghề luật sư. Luật đã thống nhất điều chỉnh thị trường dịch vụ pháp lý, đã thừa nhận nghề luật sư là một nghề luật mang tính chất dịch vụ trong và ngoài tòa án; nó gắn liền với số phận con người, có tính nhân bản sâu sắc và có tính quốc tế. Ngay cả phạm vi tham gia đoàn luật sư cũng được đổi mới, tạo ra nhiều cơ hội hơn cho luật sư khẳng định lại mình là mắt xích quan trọng trong hệ thống thực thi pháp luật và trong hệ thống thương mại đa phương.

Tính đến đầu năm 2010, cả nước đã thành lập 62 đoàn luật sư trên 63 tỉnh (trừ tỉnh Lai Châu), thành phố trực thuộc trung ương với gần 5.800 luật sư và 2.200 người tập sự hành nghề luật sư hoạt động trong gần 1.700 tổ chức hành nghề luật sư. Số lượng luật sư đã tăng hơn 250% so với trước khi Pháp lệnh Luật sư có hiệu lực, giải quyết việc làm cho hơn 10.000 người lao động trong cả nước.

Trải qua hơn 100 năm với biết bao thăng trầm, nghề luật sư Việt Nam đã sản sinh ra nhiều thế hệ luật sư không chỉ giỏi về chuyên môn mà còn có nhiều đóng góp cho cách mạng nhằm giải phóng cho dân tộc trước kia và góp phần xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh một nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân.

Trên cơ sở các tiêu chí: sự nổi tiếng; tính cống hiến cho xã hội; trình độ chuyên môn; có nhiều đóng góp cho đất nước, dân tộc. Để tôn vinh những luật sư có nhiều cống hiến cho đất nước, để giúp các đồng nghiệp, người dân có cái nhìn đầy đủ và chính xác về nghề luật sư. VPLS Trương Anh Tú xin giới thiệu đến bạn đọc loạt bài viết về các luật sư Việt Nam nổi tiếng theo từng giai đoạn lịch sử, trong suốt chiều dài hơn 100 năm của nghề luật sư tại Việt Nam.

Để viết về những luật sư nổi tiếng này, chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn, nhưng vất vả nhất là việc tìm kiếm thông tin đã cũ, vì hậu bối viết về tiền bối (hầu hết các trường hợp đã mất) là một điều rất khó. Văn phòng luật sư chúng tôi đã dày công nghiên cứu các tài liệu, tham khảo một số luật sư đồng nghiệp. Sau rất nhiều cân nhắc các tiêu trí đánh giá, đắn đo danh sách các luật sư. Văn phòng luật sư Trương Anh Tú đã chọn lọc được 12 luật sư tiêu biểu trong số hàng trăm luật sư nổi tiếng qua các thời kỳ.

Là một công trình đồ sộ so với một tổ chức hành nghề luật sư nên việc lựa chọn tiêu trí đánh giá, cân nhắc danh sách các luật sư, thông tin về các luật sư… không tránh khỏi những khiếm khuyết. Rất mong được sự đóng góp ý kiến, cung cấp thông tin từ các luật sư đồng nghiệp, các chuyên gia, bạn đọc, con cháu các vị luật sư tiền bối (có tên trong danh sách) để chúng tôi hoàn thiện công trình này.

Lời cảm ơn:

Trong các bài viết này chúng tôi đã sử dụng nhiều tư liệu, nhiều bài viết quý giá của các chuyên gia, các trang thông tin. Chúng tôi trân trọng gửi lời cảm ơn đến các trang thông tin: Wikipedia Tiếng Việt, Báo Pháp luật Việt Nam,… cùng các tác giả. Tác giả Phạm Hòa Việt…gia đình luật sư Phan Anh, luật sư Trương Đình Dzu…, luật sư Phạm Hồng Hải, luật sư Trần Đình Triển đã cung cấp nhiều thông tin, tư liệu quý giá khi thực hiện loạt bài viết này.

Tác giả và tác quyền:

Đề tài được biên soạn bởi các tác giả:

-    Chủ biên:             Luật sư - Luật gia Trương Anh Tú
-    Chuyên viên        Mai Thị Thảo
-    Chuyên viên        Đặng Xuân Cường
-    Mar-ket                 Nguyễn Thị Thùy Linh

Các bài viết thuộc tác quyền của Văn phòng luật sư Trương Anh Tú, mọi hình thức sao chép phải được sự chấp thuận của Văn phòng luật sư Trương Anh Tú, mọi hình thức sao chép trái phép là vi phạm pháp luật và bị xử lý theo quy định về quyền tác giả.

Trân trọng!
Luật sư Trương Anh Tú


 Hết kỳ 1.

------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

 

TRĂM NĂM NGHỀ LUẬT & NHỮNG LUẬT SƯ NỔI TIẾNG. Kỳ 2: Phan Văn Trường - Luật sư tiên phong

 

 

Để tôn vinh những luật sư có nhiều cống hiến cho đất nước, VPLS Trương Anh Tú sẽ giới thiệu đến bạn đọc loạt bài viết về những luật sư như tiêu biểu trong suốt chiều dài hơn 100 năm của nghề luật.

Kỳ thứ hai là bài viết:" Phan Văn Trường - Luật sư tiên phong".

Phan Văn Trường (1876 - 1933) là một luật sư, một nhà báo yêu nước Việt Nam. Quê ông ở làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội.



Phan Văn Trường (1876 - 1933)

Sau khi tốt nghiệp và trở thành luật sư, ông làm phiên dịch ở Phủ Thống sứ Bắc Kỳ. Sau ông sang Pháp theo học ngành luật tại Đại học Sorbonne, Paris rồi trình luận án Tiến sĩ về luật hình để trở thành tiến sĩ luật học đầu tiên của Việt Nam. Ông cũng từng làm giảng viên ở Trường Ngôn ngữ và Văn minh Đông phương ở Paris. Trong thời gian này, ông đã tích cực hoạt động yêu nước và giao lưu nhiều với những người cùng chí hướng.

Hoạt động chính trị tại  Pháp, ông đã cùng với Phan Chu Trinh lập Hội Đồng bào Thân ái do Phan Văn Trường làm Hội trưởng. Đây là một trong những tổ chức đầu tiên của người Việt tại Pháp. Tính chất yêu nước của Hội đã được Hội trưởng Việt Nam Quang phục Hội là hoàng thân Cường Để phái người sang Paris năm 1913 đưa thư cho Phan Chu Trinh để liên kết hoạt động. Sau vụ Việt Nam Quang phục Hội đánh bom tại Hà Nội cũng trong năm 1913, chính quyền Pháp cho rằng Phan Văn Trường và Phan Chu Trinh có liên hệ với phong trào bạo động này ở Việt Nam nên nhân Thế chiến thứ nhất nổ ra, người Pháp đã bắt giam cả hai ông vào tháng 9 năm 1914 với lý do "âm mưu chính trị chống nước Pháp" và thông đồng với Đức. Do có sự can thiệp của Hội nhân quyền và của nhiều chính khách thuộc Đảng Xã hội (Pháp) nên gần một năm sau, tháng 7 năm 1915, chính quyền Pháp buộc phải thả hai ông. Tuy nhiên đến lúc đó thì Hội đồng bào tương thân tương ái cũng không còn.

Sau Thế chiến thứ nhất, ông học tiếp và đỗ Tiến sĩ luật khoa, mở văn phòng Luật sư tại Paris. Lúc này ông tiếp tục hoạt động trong nhóm người Việt Nam yêu nước tại Pháp cùng Phan Chu Trinh, Nguyễn Ái Quốc. Ông là một trong bốn người ký tên bản "Revendications du peuple annamite" ("Thỉnh nguyện thư của dân tộc An Nam" hay còn gọi là "Yêu sách của nhân dân Việt Nam") năm 1919 với bút hiệu Nguyễn Ái Quốc và được coi là "kiến trúc sư" của văn bản này.

Cuối năm 1923, ông về nước. Đầu năm 1924 Phan Văn Trường về đến Sài Gòn. Khi Phan Văn Trường về nước, thực dân Pháp lo ngại rằng Phan sẽ là đầu mối liên lạc và tổ chức giữa những tên phiến loạn An Nam ở Pháp và người Đông Dương không theo Pháp. Mật thám đã báo cáo Toàn quyền Đông Dương để đề phòng.

Những tháng đầu, ông đi thăm bạn bè, trở về Đông Ngạc để thăm họ hàng, làng xóm, đồng thời tìm hiểu và nghiên cứu tình hình đất nước dưới ách thống trị của thực dân và tìm phương hướng hành động. Cuối cùng ông quyết định trở vào Sài Gòn, dùng báo chí làm vũ khí đấu tranh công khai theo tinh thần Đạo luật ngày 29/7/1891 do Quốc hội Pháp thông qua và được áp dụng từ 22/9/1891 ở Nam kỳ.

Tháng 6/1925, ông gặp lại nhà báo yêu nước Nguyễn An Ninh, chủ nhiệm tờ báo tiếng Pháp ở Sài gòn, La Cloche félée (Tiếng chuông rè) . Tờ báo này xuất bản số 1 từ 10/12/1923 nhưng sau 19 số xuất bản, báo phải ngừng lại do thiếu tiền. Nguyễn An Ninh và Phan Văn Trường bàn nhau gây dựng lại tờ báo này do Phan Văn Trường chủ nhiệm.                                                             

Cùng tháng này, Phan Chu Trinh cũng về đến Sài gòn và ông được hàng ngàn người ra đón, đặc biệt là giới học sinh, sinh viên. Ông gặp lại bạn học ngày xưa là Huỳnh Thúc Kháng, rồi Thủ khoa Lê Văn Huân. Hai ông Phan lại gặp nhau sau bao năm hoạt động ở Pháp mà lòng bồi hồi xúc động.

Sau thời gian ngắn chuẩn bị, ngày 26/11/1925, số 23 báo Tiếng chuông rè lại ra mắt bạn đọc. Đúng lúc đó, Cụ Phan Bội Châu bị thực dân Pháp kết án chung thân, giam tại ngục Hoả Lò, Hà Nội. Thực dân Pháp đưa một Đảng viên Đảng xã hội - tên Varenne sang làm Toàn quyền Đông Dương.

Trong số báo 23 ngày 7/12/1925, ông có bài phê phán gay gắt diễn văn đầu tiên của Varenne, ông cho đó là những thành kiến, trò ngụy biện xuyên tạc của viên toàn quyền. Tiếp đó, số báo 27 ngày 21/12/1925, ông có bài “Màn hài kịch của xứ thuộc địa, một thứ Hiến pháp kỳ quặc”. Số báo 32, ông có bài: “Lập luận sai lầm và sự xuyên tạc về tình trạng an cư lạc nghiệp hiện tại”. Một điều đặc biệt là từ số 53 ngày 29/3/1926 đến số 60 ngày 26/4/1926, báo liên tục đăng “Tuyên ngôn Đảng cộng sản” của Mác và Ănghen. Đây là lần đầu tiên một tờ báo xứ thuộc địa dám in “Tuyên ngôn Đảng cộng sản”. Báo in các tài liệu Tuyên ngôn này thành các tờ rời như phụ chương. Qua đây chúng ta thấy bản lĩnh và lập trường cộng sản của Phan Luật sư và có thể kết luận rằng Phan Luật sư là một trong những người đầu tiên truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê Nin vào Việt Nam .

Đúng lúc cuộc đấu tranh đang tiến triển thì người bạn thân thiết của Phan Luật sư qua đời. Đó là Phan Chu Trinh, ông mất ngày 24/3/1926, thọ 54 tuổi. Một Ban tang lễ được thành lập gồm 15 người đều là các chí sĩ yêu nước do Phan Văn Trường đứng đầu đã nhân dịp này tổ chức phong trào truy điệu nhà yêu nước rộng khắp từ nông thôn đến thành thị ở cả 3 kỳ Bắc, Trung, Nam. Hàng vạn người đã đến viếng và tiễn đưa Phan Tây Hồ. Bọn cầm quyền Pháp ở Đông Dương rất tức tối mà không làm gì được. Số tiền phúng viếng lên tới 16.000 đồng và được Ban tang lễ cùng gia đình quyết định dùng vào việc xây dựng nhà thờ và lăng mộ của Phan Chu Trinh để mọi người đến thăm viếng.

Nén đau thương thành hành động, Phan Luật sư lại tiếp tục viết nhiều báo hơn với nhiều hình thức phong phú như luận văn chính trị, tiểu thuyết, danh ngôn ...nhằm tuyên truyền tinh thần yêu nước chống đế quốc. Do vậy, tờ Tiếng chuông rè đã bị đình bản vào ngày 3/5/1926. Tuy vậy 3 ngày sau, Phan Văn Trường lại cho ra mắt tờ L’Annam (Nước Nam ) cũng xuất bản bằng tiếng Pháp. Thực ra đây là sự tiếp nối tờ Tiếng chuông rè vì Phan Luật sư ghi là năm thứ ba. Trên đầu tờ L’Annam số 23 ngày 6/5/1926, Phan có ghi câu bằng chữ Hán “ Dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Báo này tiếp tục vạch mặt tên Varenne và những tên thực dân lộng hành ở Đông Dương.

Phan Văn Trường rất kính trọng Phan Bội Châu và trên tờ Tiếng chuông rè, Phan Bội Châu được miêu tả như một người anh hùng, nhà yêu nước vĩ đại, là hiện thân của tinh thần dân tộc Việt Nam. Khi Phan Bội Châu bị giam lỏng ở Huế thì Phan Văn Trường đã vận động quyên góp đồng bào cả nước để xây dựng một ngôi nhà riêng và đảm bảo đời sống vật chất cho nhà cách mạng Phan Sào Nam. Ông coi đó là việc trả “một món nợ thiêng liêng đối với nhà yêu nước”. Với uy tín của mình, Phan Văn Trường đã quyên góp và trực tiếp đứng ra nhận tiền đóng góp của nhân dân. Số tiền quyên góp được khoảng 2000 đồng Đông Dương, đủ mua được một mảnh đất và dựng nhà cho Phan Bội Châu tại Bến Ngự và tên Ông Già Bến Ngự phát sinh từ đó. Phan Văn Trường cũng dự định mời Phan Bội Châu vào Nam để được tiếp xúc với bậc anh hùng nhưng không thực hiện được vì thực dân Pháp không cho phép Phan Bội Châu tự do đi lại.

Do vậy, năm 1927 Phan Văn Trường trực tiếp ra Huế để gặp Phan Bội Châu cho thoả lòng mong ước. Hai ông gặp nhau thật là tri âm tri ngộ. Phan Bội Châu khi bị giam lỏng ở Huế, rồi lại được chính Phan Văn Trường đứng ra quyên góp giúp đỡ nên rất mến mộ Luật sư Phan. Ông thường xuyên theo dõi hoạt động của Phan Văn Trường, đặc biệt là các tờ Tiếng chuông rè và L’Annam. Cụ bảo rằng ở nước ta chỉ có tờ báo này dám công nhiên chống đối chế độ thực dân Pháp, đả kích chính sách vô nhân đạo của bọn thống trị.



L’ ANNAM tiếng nói phản kháng của người dân An Nam

Nhân dịp bên Trung Quốc nổ ra cuộc phản biến tháng 4/1927, Tưởng Giới Thạch thẳng tay khủng bố và tàn sát người theo cách mạng thì ở Việt Nam, thực dân Pháp cũng muốn tiêu diệt các nhóm cách mạng mà từ lâu chúng coi như gai đâm vào mắt. Trưa ngày 21/7/1927, thực dân Pháp đã ập vào nhà riêng của Phan Văn Trường để lục soát. Chiều hôm sau, 14h30, chúng lại lục soát Toà soạn tờ L’Annam, lấy đi một số giấy tờ tài liệu, Phan Văn Trường bị bắt và tờ báo bị đình bản.

Sau tám tháng giam giữ, ngày 27/3/1928, Phan Văn Trường bị Toà áo đỏ Sài Gòn kết án hai năm tù giam vì tội “Xui kích làm phản, kêu dân Việt Nam nổi loạn để đuổi người Pháp ra khỏi xứ”. Phan Luật sư đã chống án sang Toà án Pháp. Chờ hơn một năm rưỡi, chính Toà Thượng thẩm nơi ông hành nghề luật sư đưa ông ra xét xử. Ngày 18/8/1928 cảnh sát bắt Phan Văn Trường tại nhà số 1 Blainville quận 5 Paris. Ông bị giam tại xà lim số 13 khu số 8 Nhà lao La Santé  nơi mà cách đó 15 năm Phan Chu Trinh đă từng bị tù giam một năm. Thời gian đầu ông bị giam với thường phạm, nhưng ông phản đối và ngày 31/8/1929 ông được chuyển sang giam tại khu tù chính trị.

Phan Bội Châu vẫn theo dõi sát hoạt động của Phan Luật sư và Ông già Bến Ngự hết sức lo lắng khi Phan Luật sư phải ngồi tù ở Pháp. Hết hạn tù, ông trở về Việt nam và gặp lại Nguyễn An Ninh ở Sài gòn để bàn việc tiếp tục xuất bản báo như tờ Tiếng chuông rè và tờ L’Annam.

Năm 1933, ông quay ra Hà Nội để thăm gia đình và thị sát tình hình chính trị ở Miền Bắc nhưng ông ngã bệnh và phải ở lại Hà Nội để điều trị. Khi bệnh thuyên giảm, ông lại khẩn trương lên đường vào Nam nhưng mới đến Đà Nẵng, bệnh lại tái phát và ông phải quay ra Hà Nội và ở tại nhà anh trai là Phan Cao Luỹ (cùng với con của ông Luỹ) tại số 25 đường Gambetta (nay là đường Trần Hưng Đạo) để điều trị nhưng do bệnh nặng không thể cứu chữa, ông đã qua đời ngày 22/4/1933 tại Hà Nội, khép lại một cuộc đời đấu tranh gian khổ và anh dũng vì dân vì nước. Nghe tin Phan Văn Trường mất, Phan Bội Châu vô cùng đau đớn như mất đi một tri âm tri kỷ.

Hai hôm sau, gia đình đã đưa ông về an táng tại Xóm 8 thôn Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội. Mộ phần ông được xây bằng gạch nằm khiêm tốn trong một khu vườn nhỏ, bên cạnh cây trứng gà (Đào tiên) xum xuê toả bóng mát, hiện nay do cháu ông là Phan Văn Thăng trông nom và hương khói. Trên mộ có ghi một hàng chữ Hán “Luật sư Tiến sĩ”.

Tết Nhâm Dần 1962, Bác Hồ đã đến thăm và chúc tết nhân dân xã Đông Ngạc vì năm ấy đã đạt nhiều thành tích trong hoạt động sản xuất. Đúng 6h sáng ngày Mùng một Tết, nhớ lời giao kết xưa kia Bác đã ghé thăm mộ Phan Văn Trường như thăm lại người Thầy, người đồng chí của mình sau 40 năm cách biệt. 7h sáng, Bác về nói chuyện và chúc tết nhân dân tại Đình làng Nhật Tảo .

Thời gian vừa qua, một số trí thức và các sử gia Việt Nam mà đứng đầu là GS Trần Văn Giầu có ý định tổ chức Hội thảo về Phan Văn Trường để xác định sự đóng góp to lớn của Phan Luật sư vào sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, “trả lại cho Phan những gì của Phan” nhưng vẫn chưa thực hiện được. Tuy vậy, chúng ta có quyền hi vọng là trong tương lai không xa, những đóng góp của Phan Luật sư sẽ được nghiên cứu cụ thể, được thừa nhận và cũng hi vọng rằng trong Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, nhân vật Phan Văn Trường sẽ được ghi nhận không chỉ là Luật sư đầu tiên của Việt Nam, Tiến sĩ luật học đầu tiên của Việt Nam, nhà báo nổi tiếng mà còn là một trong những nhà cách mạng cộng sản đầu tiên của Việt Nam!

Ghi nhận công lao đóng góp của người con Hà thành cho sự nghiệp cách mạng Việt nam, ngày 18 tháng 1 năm 2002, tại Kỳ họp thứ 6 Hội đồng nhân dân Thành phố Hà nội đã ra Nghị quyết đặt tên ông cho con đường dài 500m, rộng 15m nối đường Xuân Thuỷ với đường Trần Quốc Hoàn thuộc quận Cầu Giấy; nơi đặt trụ sở Trường Đào tạo các chức danh tư pháp (nay là Học viện Tư pháp) - cái nôi đào tạo luật sư đầu tiên của Việt Nam.

Các bài viết thuộc tác quyền của Văn phòng luật sư Trương Anh Tú, mọi hình thức sao chép phải được sự chấp thuận của Văn phòng luật sư Trương Anh Tú, mọi hình thức sao chép trái phép là vi phạm pháp luật và bị xử lý theo quy định về quyền tác giả.

Hết kỳ 2.

--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

 

Trăm năm nghề luật & những luật sư nổi tiếng/ Kỳ 3: LUẬT SƯ TRẦN VĂN CHƯƠNG - MỘT CON NGƯỜI CHÍNH TRỰC

 

Để tôn vinh những luật sư có nhiều cống hiến cho đất nước, VPLS Trương Anh Tú sẽ giới thiệu đến bạn đọc loạt bài viết về những luật sư như tiêu biểu trong suốt chiều dài hơn 100 năm của nghề luật.

Kỳ thứ ba là bài viết:" Luật sư Trần Văn Chương - Một con người chính trực".

Trần Văn Chương (1898 - 1986) là một luật sư Việt Nam, người từng giữ chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao thời kỳ Đế quốc Việt Nam (Chính phủ Trần Trọng Kim), rồi bộ trưởng Bộ Kinh tế của Việt Nam Cộng hòa thời Đệ nhất cộng hòa trước khi được bổ nhiệm là đại sứ tại Mỹ. Ông cũng là anh trai của Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ và là cha đẻ của Đệ nhất phu nhân thời Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam - Trần Lệ Xuân.

Thân thế và sự nghiệp

Luật sư Trần Văn Chương sinh năm Mậu Tuất (năm 1898) tại Nam Định trong một gia đình danh gia vọng tộc. Ông là con trai của Tổng đốc Nam Định Trần Văn Thông và là cháu  gọi Bùi Quang Chiêu là cậu (một trong những phú hộ lừng danh Nam Kỳ thời bấy giờ). Lúc nhỏ Trần Văn Chương học tại Hà Nôi. Sau đó, sang Algérie du học 11 năm, rồi sang Pháp học đại học Luật khoa và đỗ tiến sĩ luật năm 1922. Về nước ông hành nghề luật sư tại Bạc Liêu và có khoảng thời gian từ năm 1925 đến 1935 làm ở tòa Thượng thẩm Sài Gòn. Năm 1940, Trần Văn Chương ra Hà Nội và mở Văn phòng luật sư và đặt tại số nhà 71 đại lộ Gambetta - nay là phố Trần Hưng Đạo (biển hiệu bằng đồng của văn phòng ghi “Trần Văn Chương - Trạng sư quan”).



Luật sư Trần Văn Chương (1898 - 1986)

Trần Văn Chương xuất hiện trên chính trường tháng 4, năm 1945 khi ông được bổ nhiệm làm Phó tổng trưởng nội các (phó thủ tướng) kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của Đế quốc Việt Nam trong chính phủ do giáo sư Trần Trọng Kim làm tổng trưởng, đó là một thời điểm lịch sử của dân tộc Việt Nam cũng như toàn thể nhân loại khi cuộc đại chiến thế giới đang dần đến hồi kết. Còn nhớ, thời điểm đó người Pháp bị Đế quốc Nhật Bản hất cẳng tại Việt Nam nhưng người Nhật cũng không muốn xáo trộn trật tự bản xứ, nhân cơ hội đó giáo sư Trần Trọng Kim đã tập hợp được đội ngũ nhân sỹ, trí thức hàng đầu tham gia vào chính phủ, bước đầu gây dựng nền độc lập cho nước nhà sau gần 100 năm Pháp thuộc. Trong số 15 thành viên nội các thời đó, tự hào thay khi có tới 4 luật sư được ông Trần Trọng Kim trọng dụng, ngoài luật sư Trần Văn Chương còn có luật sư Phan Anh, luật sư Trịnh Đình Thảo và luật sư Vũ Văn Hiền, mà chúng tôi sẽ ghi danh trong các bài viết sau.

Cùng nổi trôi theo vận nước, năm 1954, ông được phái làm đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại Mỹ dưới thời Đệ nhất Cộng hòa. Tuy nhiên, tới ngày ngày 23 tháng 8 năm 1963 ông từ chức đại sứ để phản đối chính sách mà nhiều người cho là đàn áp phật giáo, ưu đãi đạo Thiên chúa giáo La Mã của Tổng thống Ngô Đình Diệm.

Vợ của luật sư Trần Văn Chương cũng là người phụ nữ khá nổi tiếng thời bấy giờ, bà tên nhũ danh là Thân Thị Nam Trân - con gái thượng thư Bộ Binh Thân Trọng Huề. Bà Nam Trân từng là quan sát viên thường trực tại Liên Hiệp Quốc của chế độ Việt Nam Cộng hòa.

Bi kịch của một gia đình trí thức


Trần Văn Chương và bà Thân Thị Nam Trân có ba người con là Trần Lệ Chi, Trần Lệ Xuân và Trần Văn Khiêm. Trong ba người con này của Trần Văn Chương thì đáng chú ý hơn cả là người con gái thứ hai Trần Lệ Xuân, người mà sau này được gọi là Đệ nhất phu nhân thời Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam và cũng được coi là trái đắng của hai dòng họ Trần, Thân khi có một loạt những phát ngôn và hành động chống lại Phật giáo miền Nam và chính cha mẹ mình.

Sự việc bắt đầu từ việc gia đình Trần Văn Chương đồng ý để Trần Lệ Xuân và Ngô Đình Nhu kết hôn với nhau. Vào năm 1940, khi ra Hà Nội mở văn phòng luật sư tại số nhà 71 đại lộ Gambetta, gia đình Trần Văn Chương đã đồng ý để Trần Lệ Xuân và Ngô Đình Nhu (lớn hơn Trần Lệ Xuân 15 tuổi) làm lễ cưới tại nhà thờ lớn do ông Ngô Đình Thục đứng ra chủ lễ, với sự có mặt của Đức cha Chaize và nhiều linh mục Pháp - Việt khác vào năm 1943.

Vợ chồng Trần Văn Chương và Thân Thị Nam Trân không ngờ được rằng 20 năm sau (năm 1963), lúc ông Chương làm đại sứ tại Mỹ và bà Nam Trân làm quan sát viên chính thức của chính quyền Việt Nam cộng hòa tại Liên Hiệp Quốc phải đón nhận những lời trách giận của những người trong họ hàng vốn theo đạo Phật, lẫn bạn hữu trong giới tri thức người Việt ở nước ngoài, về những điều tệ hại do con ruột (Trần Lệ Xuân) và con rể (Ngô Đình Nhu) gây ra trong quá trình chống phá Phật giáo miền Nam, dẫn đến đổ máu và tai tiếng qua biến cố lễ Phật đản năm 1963 tại Huế. Thêm nữa, ông bà rất khổ tâm khi nghe các đài phát thanh quốc tế, Đài BBC, Đài VOA, Đài Úc Đại Lợi, cứ lặp đi lặp lại phát biểu ngỗ ngược của Trần Lệ Xuân trước tòa Đô chánh Sài Gòn trong lễ ra mắt Phụ nữ bán quân sự khóa III ngày 03/08/1963, rằng: “Tôi (Trần Lệ Xuân) sẽ còn đánh sư gấp 10 lần nữa” kèm theo bình luận không mấy hay ho. Vì những phát biểu trên mà Ủy ban Liên phái Phật giáo đã phải gửi văn bản đến Tổng thống Ngô Đình Diệm để phản đối Trần Lệ Xuân và đặc biệt lưu ý Tổng thống về sự lộng quyền ngày càng lộ rõ của bà.

Còn về con rể Ngô Đình Nhu, ông bà Trần Văn Chương thất vọng khi nghe  các cơ quan thông tấn đưa tin Nhu công khai miệt thị các nhà sư là “cuồng tín” và “thiếu giáo dục”, vu khống đồng bào theo đạo Phật là Cộng sản “phá hoại an ninh quốc gia’. Nhất là sau đêm “nước lũ”, lực lượng đặc biệt và công an mật vụ do Ngô Đình Nhu và Trần Lệ Xuân tung ra đã bắt giam hàng nghìn tăng ni và đồng bào ủng hộ Phật giáo, đông nhất là Sài Gòn với 728 người, Huế 595 người … Những ngày tiếp đó, lùng bắt thêm 2.500 người nữa. Một số trí thức, gồm các giáo sư, khoa trưởng các trường đại học ở Sài Gòn hưởng ứng bãi khóa. Ở Mỹ, ông bà Trần Văn Chương quyết định bất hợp tác với chính quyền Sài Gòn, từ chức và điện báo cho Diệm - Nhu biết vào đêm ngày 23/8/1963.

Nhận tin, cả Ngô Đình Diệm lẫn cố vấn Ngô Đình Nhu đều bất ngờ, bối rối, chưa biết xử trí ra sao. Phần vì thái độ của một đại sứ ở Mỹ (như ông Trần Văn Chương) và một quan sát viên chính thức tại Liên Hợp Quốc (bà Nam Trân) hợp lại sẽ có sức “nhạy cảm” đối với thời tiết chính trị, là “phong vũ biểu” báo trước phần nào những thuận nghịch trong bang giao đặc biệt giữa Sài Gòn với Washington thời ấy. Phần vì ông Trần Văn Chương là bố vợ của Ngô Đình Nhu, cha ruột của Trần Lệ Xuân, sui gia với nhà Ngô, là “người trong nhà” mà nay công khai phản đối Diệm - Nhu như thế hết sức bất lợi. Đang lúc hai ông Diệm - Nhu chưa biết tìm ra cách ứng xử hữu hiệu thì Trần Lệ Xuân đề nghị giải pháp xuyên tạc sự thật bằng cách “sửa sai” hai chữ “từ chức’ thành “bãi chức”, để đối phó với cha mình.

Giải pháp ấy trong lúc cấp thời của Trần Lệ Xuân đã được Ngô Đình Nhu và Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm đồng thuận. Liền đó, Trần Lệ Xuân thảo bản tin đưa cho Việt tấn xã với nội dung: “Ngày 23.8.1963, ông bà Trần Văn Chương có đánh điện xin từ chức nhưng trước đó hai tiếng đồng hồ, Bộ Ngoại giao (Sài Gòn) đã gửi điện tín cho ông Chương biết chính phủ Việt Nam Cộng hòa quyết định cách chức ông kể từ sáng ngày 23.8.1963 rồi - tức là trước khi ông bà Trần Văn Chương xin từ chức, như đài VOA đã loan tin hồi 20 giờ 35 ngày hôm đó. Trong tình trạng thiết quân luật, mọi điện tín đều bị quân đội kiểm soát, bởi vậy bức điện của Bộ Ngoại giao mới tới Hoa Kỳ sau bức điện của ông Chương gửi về Sài Gòn”. Việc “đánh tráo” để gỡ thể diện nêu trên đã có một số tài liệu nhắc đến, trong đó cuốn Trần Lệ Xuân - giấc mộng chính trường của Lý Nhân - Phan Thứ Lang (nhà văn Phan Kim Thịnh) ghi rõ: “Ai cũng biết Lệ Xuân bênh vực họ nhà chồng, nên bà bàn với Nhu cho đăng một bản tin của Việt Tấn xã nói về vụ luật sư Trần Văn Chương từ chức “cải chính” thành Chương bị bãi chức (…). Sở dĩ Lệ Xuân tức giận cha mình vì ông tuyên bố với báo chí bên Mỹ là con gái ông thiếu văn hóa, vô lễ với tôn giáo, với các nhà tu hành. Giận cha mẹ, Lệ Xuân phát biểu lung tung thông qua Việt Tấn xã: “Trần Văn Chương - Đại sứ Việt Nam tại Mỹ, bị chính phủ lột chức, một kẻ tự hào rằng theo Khổng giáo, đang tiếp tục tuyên truyền chống chế độ và phản bội con gái yêu tại Hoa Kỳ”. Hoặc: “Đạo Khổng lấy điều Trung làm trọng, và người theo đạo Khổng nếu không làm tròn trách nhiệm chúa mình giao phó thường tự xử bằng cách tự vẫn”.

Ngôn ngữ nêu trên nếu không được Trần Lệ Xuân và ông Ngô Đình Nhu chỉ đạo thì đố ai mà dám viết công khai trên báo chí như thế. Song, chừng đó cũng chưa đủ hả dạ Lệ Xuân còn thông qua Việt Tấn xã vạch tội cha mình: “Trần Văn Chương - người có một tòa nhà tại Hoa Thịnh Đốn và một căn nhà tại Ba Lê, đã phản bội và bị cách chức đại sứ”.

Trước sự ngỗ ngược của con gái, ông bà Trần Văn Chương sau ngày từ chức vẫn tiếp tục lên án công kích Diệm - Nhu, nghiêm khắc phê phán Trần Lệ Xuân vô lễ, mất tư cách và mất nhân tính. Về phía Bộ Ngoại giao Mỹ, không lâu sau đêm các chùa trên toàn miền Nam bị tấn công, đã phổ biến thông báo đặc biệt phán xét: “Rõ ràng chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã có những biện pháp đàn áp khắt khe đối với các lãnh tụ Phật giáo Việt Nam. Hành động này là một vi phạm trực tiếp của chính phủ Việt Nam (Sài Gòn) vào lời cam kết theo đuổi một chính sách hòa giải với tín đồ phật giáo. Hoa Kỳ phiền trách các hành động đàn áp nêu trên”.



Ông Trần Văn Chương và bà Thân Thị Nam Trân

Kể từ đó ông bà Chương ở lại Hoa Kỳ. Bi kịch xảy ra với gia đình họ Trần khi hai ông bà Trần Văn Chương bị chính con trai là Trần Văn Khiêm sát hại trong căn nhà của họ tại Tây bắc Washington, Hoa Kỳ ngày 26 tháng 7 năm 1986, ông hưởng thọ 88 tuổi. Trần Văn Khiêm bị cảnh sát Mỹ bắt giữ, nhưng sau đó Tòa án Mỹ tha Khiêm với lý do bệnh tâm thần và trục xuất Khiêm khỏi Hoa Kỳ.

Với những sự kiện xảy ra trong cuộc đời của luật sư Trần Văn Chương, có thể thấy ông quả là một con người chính trực. Những việc làm và hành động của ông khẳng định một điều rằng: dù có sống trong bất cứ chế độ xã hội nào thì những đạo lý, những chuẩn mực về đạo đực và lẽ phải là điều không bao giờ thay đổi. Trần Văn Chương đã dùng cả “sinh mệnh chính trị” để bảo vệ những điều ông cho là lẽ phải, không kể tình thân hay phải đối mặt với bất kỳ thế lực nào. Đó là điều thật sự đáng quý và đáng trân trọng trong con người Trần Văn Chương, âu đó cũng là bản sắc của những người luật sư trân chính.

Các bài viết thuộc tác quyền của Văn phòng luật sư Trương Anh Tú, mọi hình thức sao chép phải được sự chấp thuận của Văn phòng luật sư Trương Anh Tú, mọi hình thức sao chép trái phép là vi phạm pháp luật và bị xử lý theo quy định về quyền tác giả.

Hết kỳ 3.

-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------

 

Trăm năm nghề luật & những luật sư nổi tiếng/ Kỳ 4: Luật sư Trịnh Đình Thảo

 

Để tôn vinh những luật sư có nhiều cống hiến cho đất nước, VPLS Trương Anh Tú sẽ giới thiệu đến bạn đọc loạt bài viết về những luật sư như tiêu biểu trong suốt chiều dài hơn 100 năm của nghề luật.

Kỳ thứ tư là bài viết:" LUẬT SƯ TRỊNH ĐÌNH THẢO"

Trịnh Đình Thảo (1901-1986) là một luật sư và một nhà chính khách Việt Nam. Ông từng là Bộ trưởng Bộ Tư pháp của Chính phủ Trần Trọng Kim (1945); nguyên Chủ tịch Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (1969-1976); nguyên Đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá VI (1976-1981).


 
Chân dung luật sư Trịnh Đình Thảo

Tiểu sử học vấn

Trịnh Đình Thảo sinh ngày 20-7-1901 tại Chính Kinh, Nhân Mục nay là phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Trước năm 1918, ông học trung học tại Hà Nội và đỗ tú tài theo hệ thống giáo dục của Pháp. Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, ông sang Pháp để tiếp tục nâng cao trình độ học vấn. Ông theo học luật, văn chương, kinh tế thương mại tại Pháp và tốt nghiệp Cử nhân Văn Chương, thạc sỹ kinh tế và thương mại, tiến sỹ luật khoa, trở thành thành viên Luật sư đoàn Tòa thượng thẩm Marseille lúc ông vừa tròn 28 tuổi.

Nhà trí thức yêu nước

Sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, xuống tàu sang Pháp du học, ông đã sớm hiểu cái nhục mất nước và tự cách ly mình ra khỏi chế độ phong kiến vua quan và đẳng cấp của gia đình.

Những năm học và hành nghề luật sư ở Pháp, ông đã từng tham gia phong trào yêu nước của sinh viên Việt Nam tại Pháp. Sau đám tang cụ Phan Chu Trinh (1926), với sự bảo trợ của các nghị sĩ Pháp trong vùng, ông đã tập hợp hơn 300 sinh viên Việt Nam ở thành phố AIX trong 3 ngày để phản đối chính sách bóc lột và đàn áp dã man của thực dân Pháp ở Việt Nam. Ông cũng đã từng bào chữa thành công cho một số Việt kiều trước tòa án Pháp.

Cuối năm 1929 ông về nước. Vào những năm 20 của thế kỷ XX, với bằng tiến sĩ luật khoa của Pháp mà trở về Hà Nội thì chắc chắn con đường công danh của ông là rất thuận lợi. Với chức án sát, ông có thể dễ dàng leo lên tuần phủ rồi tổng đốc như nhiều người cùng lứa. Song ông đã từ chối tất cả và quyết đi theo con đường mà mình đã chọn là làm nghề luật sư để bảo vệ quyền và lợi ích của người dân hay chính là nghề “thầy cãi” mà dân mình vẫn quen gọi. Hơn nữa nghề đó giúp ông “bảo đảm được sự độc lập trong suy nghĩ và tự do trong ứng xử” như ông đã bộc bạch trong hồi ký “Suy nghĩ và hành động”. Trong thời gian làm luật sư tại Tòa thượng thẩm Sài Gòn, ông đã tận tình giúp đỡ và bào chữa cho những người yêu nước chẳng may bị thực dân Pháp bắt và đưa ra xét xử.

Trở về nước hoạt động suốt 15 năm dài trước toà án Sài Gòn và các tỉnh, cụ thấm thía rằng dù Nam Kỳ là đất thuộc địa thì luật pháp vẫn không có ý nghĩa gì cả đối với những người bị ghép vào tội chính trị. Bao nhiêu thân chủ mà luật sư đã tận tâm bào chữa đều nối nhau đi tù, cũng như ảo tưởng của ông về công lý, dù là công lý tư sản, cũng dần dần mất hết. Từ đây ông dấn thân vào con đường cách mạng đấu tranh giải phóng dân tộc.

Nhật lật đổ Pháp ngày 9/3 năm 1945. Vua Bảo Đại đánh điện mời ông ra Huế nhận chức Bộ trưởng Tư pháp trong chính phủ thân Nhật Trần Trọng Kim. Khi nhận được lời mời ông đã suy nghĩ rất nhiều rồi quyết định "chấp thuận" với mong muốn trong quyền hạn của mình may ra ông có thể trả tự do cho các anh em chính trị bị tù.

Trên con đường lai kinh nhậm chức, cụ đã thực hiện đúng ý định ấy. Hằng trăm anh chị em tù chính trị ở Bình Thuận, Khánh Hòa, Bình Định đã được thả ngay và tặng tiền đường để mau sớm về nhà. Tới Quy Nhơn, có cuộc đụng độ với sĩ quan hiến binh Nhật để đòi thả 48 tù cộng sản lớn từ Đắc Tô chuyển về và bị bí mật giam riêng. Những anh chị em này về sau, đã đóng góp một phần quan trọng vào Cách mạng tháng Tám 1945 nổ ra năm tháng sau ở Trung Bộ.

Năm 1949 ông được mời làm Thủ tướng Chính phủ bù nhìn song ông từ chối và bí mật ra vùng tự do tiếp xúc với các nhà lãnh đạo kháng chiến.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền. Nhân dân miền Nam phải sống dưới chế độ kìm kẹp của đế quốc Mỹ và chính quyền Diệm. Trong hoàn cảnh mới, với tư cách là Chủ tịch phong trào, ông tham gia tích cực phong trào bảo vệ hòa bình, chống chiến tranh và bị chính quyền Diệm bắt giam. Ra tù, ông lại tiếp tục đấu tranh chống Mỹ và chế độ Sài Gòn và lại bị bắt trở lại. Tất cả là 5 lần ra, vào nhà tù, song không làm ông phai nhạt lòng yêu nước và suy giảm nhuệ khí đấu tranh.



Luật sư Trịnh Đình Thảo( áo trắng) chụp ảnh cùng Bác sĩ Trần Duy Hưng, hòa thượng Thích Đôn Hậu nhân lễ kỉ niệm ngày kết nghĩa Hà Nội - Huế - Sài Gòn.

Năm 1968 ông đi theo liên lạc của Mặt trận ra khu giải phóng bỏ lại nhà cửa, tài sản. Ngày 20-4-1968 ông tham gia thành lập và được Đại hội bầu giữ chức Chủ tịch Liên minh Các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam. Đây là một tổ chức quy tụ các phong trào đấu tranh yêu nước của các giới sinh viên, học sinh, trí thức, đồng bào tôn giáo, công thương gia, nhân sĩ dân chủ tại các thành thị miền Nam.

Ngày 6-6-1969 Liên minh cùng Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, đại diện cho các giai cấp, tầng lớp xã hội, các chính đảng, đoàn thể cử ra Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Hội đồng cố vấn của Chính phủ. Luật sư Trịnh Đình Thảo được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng cố vấn Chính phủ. Mùa hè năm 1969, ông dẫn đầu Đoàn đại biểu Liên minh các lực lượng dân tộc, Dân chủ và Hòa Bình Việt Nam ra thăm miền bắc Việt Nam.

Năm 1975 Với thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nhân dân ta đã hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Quốc hội khóa VI được tổ chức bầu cử trên toàn quốc. Luật sư được nhân dân bầu làm đại biểu với sự tín nhiệm cao, được Quốc hội bầu làm Ủy viên Ủy ban dự thảo Hiến pháp.

Về công tác Mặt trận, nhằm đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới, Đại hội Mặt trận Dân tộc thống nhất họp từ 31-1 đến 4-2-1977 tại TP. Hồ Chí Minh đã thống nhất ba tổ chức Mặt trận ở hai miền Nam - Bắc nước ta thành một tổ chức Mặt trận dân tộc thống nhất duy nhất lấy tên là MTTQ Việt Nam. Tại Đại hội, Luật sư Trịnh Đình Thảo được bầu làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam khóa I nhiệm kỳ 1977 - 1983 và tái bầu vào Đoàn Chủ tịch khóa II nhiệm kỳ 1983 - 1988.

Ngày 3-4-1986, ông mất tại TP. Hồ Chí Minh do tuổi cao, sức yếu. Luật sư Trịnh Đình Thảo được Đảng, Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ.

Các bài viết thuộc tác quyền của Văn phòng luật sư Trương Anh Tú, mọi hình thức sao chép phải được sự chấp thuận của Văn phòng luật sư Trương Anh Tú, mọi hình thức sao chép trái phép là vi phạm pháp luật và bị xử lý theo quy định về quyền tác giả.

Hết kỳ 4.

----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

 

Trăm năm nghề luật & những luật sư nổi tiếng/ Kỳ 5: Luật sư Nguyễn Mạnh Tường

 

Kỳ thứ năm là bài viết:"LUẬT SƯ NGUYẾN MẠNH TƯỜNG - NHÀ ĐẠI TRI THỨC PHỐ CỔ

Tiểu sử

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường sinh năm 1909 tại phố Hàng Đào, Hà Nội. Ông theo học tại trường Albert Sarraut (địa điểm trường Trung học Phổ thông Trần Phú - Hoàn Kiếm ngày nay) và đỗ tú tài năm 16 tuổi. Sau đó du học tại Đại học Montpellier ở miền nam nước Pháp năm 1927. Khi mới 22 tuổi ông trở thành người Việt đầu tiên đỗ hai bằng tiến sĩ tại Pháp: Ưu hạng Luật khoa (Luận án L'individu dans la vieille cité annamite, Code des Lê, D.E., Droit, Montpellier, Imp. de la Presse Montpellier 1932) và Tiến sĩ Quốc gia văn chương (với luận án L'Annam dans la littérature française, D.E., Lettres, Montpellier 1932) Báo chí thời ấy đã coi người thanh niên Việt Nam trong một năm đỗ 2 bằng tiến sĩ là hiện tượng chưa từng có trong nền giáo dục đại học Pháp. Bạn tri âm của ông là Nguyễn Văn Huyên, người cũng làm luận án Tiến sĩ Văn khoa tại Pháp.



Luật sư Nguyễn Mạnh Tường (1909 - 13/6/1997).

Trở về Việt Nam năm 1936, Nguyễn Mạnh Tường dạy văn học Pháp ở trường Trung học Bảo hộ (Lycée du Protectorat), hay còn gọi là trường Bưởi (từ 1945 đổi tên thành trường Trung học Chu Văn An). Bất mãn với chính sách kỳ thị của Pháp khiến ông bỏ dạy và mở văn phòng luật sư tại hai biệt thự số 1 và số 2 phố Mai Xuân Thưởng. Về sau gia đình đã hiến tất cả cho Nhà nước, làm trụ sở cơ quan tiếp dân của Thanh tra Chính phủ.

Trong thời gian tham gia kháng chiến chống Pháp, ông làm luật sư, dạy học tại Thanh Hóa và khu ba nói chung, giữ chức vụ Phó Giám đốc Trường Sư phạm cao cấp liên khu Bốn. Đến khi hòa bình lập lại năm 1954, ông trở về Hà Nội, là giáo sư trường Đại học Văn khoa (nay là Đại học Quốc gia Hà Nội). Sau 1954, ông giữ các chức vụ Trưởng khoa Đại học Luật Hà Nội, Phó chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam, Chủ tịch Đoàn Luật sư, Phó Trưởng khoa Đại học Sư phạm Hà Nội; thành viên Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thành viên của Hội Hữu nghị Việt - Pháp, Hội Hữu nghị Việt-Xô và Ủy ban Bảo vệ Hoà bình Thế giới, sáng lập viên Câu lạc bộ Đoàn Kết, Phó hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội, chuyên viên nghiên cứu giáo dục. Ông tham gia phái đoàn chính phủ dự hội nghị trù bị Đà Lạt năm 1946, dự các hội nghị hòa bình thế giới ở Bắc Kinh và Wien năm 1952.



Luật sư Nguyễn Mạnh Tường trong phong trào Nhân Văn - Giai phẩm.

Trong số ra mắt ngày 20 tháng 9 năm 1956, báo nguyệt san Nhân Văn đã đăng ngay trên trang nhất bài "Chúng tôi phỏng vấn về vấn đề mở rộng tự do và dân chủ". Người được phỏng vấn đầu tiên là luật sư Nguyễn Mạnh Tường. Ông nêu hai nguyên nhân khiếm khuyết về dân chủ thời bấy giờ:

a. Đảng viên Lao động và cán bộ thi hành chính sách thiếu tinh thần dân chủ. Do đó xa lìa quần chúng, và tạo ra tình trạng đối lập quần chúng với mình. Để sửa đổi, cần xây dựng quan điểm quần chúng cho đảng viên và cán bộ, và yêu cầu Trung ương Đảng và Chính phủ đảm bảo sự thi hành triệt để các tự do dân chủ.

b. Quần chúng chưa thấm nhuần tinh thần chủ nhân ông trên đất nước, do đó chưa tranh đấu đòi thực hiện dân chủ. Để sửa chữa, ta cần xây dựng ý thức dân chủ cho quần chúng.
Loạt bài được dự định tiếp tục với bác sĩ Đặng Văn Ngữ, nhà sử học Đào Duy Anh, nhà văn Nguyễn Đình Thi... nhưng cho đến số cuối cùng được ra mắt là số 5, ngày 20 tháng 11 cùng năm, Nhân Văn chỉ có thể công bố bài phỏng vấn Đặng Văn Ngữ và Đào Duy Anh.

Ngày 30 tháng 10 năm 1956, luật sư Nguyễn Mạnh Tường, với tư cách thành viên của Mặt trận Tổ quốc, đã đọc một bài diễn văn tại một cuộc họp của Mặt trận Tổ quốc ở Hà Nội, phân tích sâu sắc những sai lầm của Đảng và Nhà nước trong cải cách ruộng đất và đề ra phương hướng tránh mắc lại. Sau phát biểu này, ông gặp nhiều rắc rối và cuộc đời bước sang trang khác.

Ông mất ngày 13 tháng 6 năm 1997 tại Hà Nội, thọ 88 tuổi. Trong sổ tang tưởng niệm nhà trí thức Nguyễn Mạnh Tường, tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười đã ghi "... Vô cùng thương tiếc giáo sư - luật sư Nguyễn Mạnh Tường - Một trí thức yêu nước đã có cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất tổ quốc và góp phần xây dựng nền giáo dục của Việt Nam".



Luật sư Nguyễn Mạnh Tường và phu nhân lúc cuối đời

Gia đình

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường có vợ là bà Tống Lệ Dung, có ba con, một trai và hai gái. Người con trai cả (Nguyễn Tường Hưng nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch các Bộ: Mỏ và Than, Năng lượng và Công nghiệp) và người em ngay sát ông đều đã nghỉ hưu. Con rể ông là nhạc sĩ, nhà lý luận phê bình âm nhạc Hồ Quang Bình, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Âm nhạc Hà Nội.
 
Các bài viết thuộc tác quyền của Văn phòng luật sư Trương Anh Tú, mọi hình thức sao chép phải được sự chấp thuận của Văn phòng luật sư Trương Anh Tú, mọi hình thức sao chép trái phép là vi phạm pháp luật và bị xử lý theo quy định về quyền tác giả.

Hết kỳ 5.

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

 

Trăm năm nghề luật & những luật sư nổi tiếng/ Kỳ 6: LUẬT SƯ NGUYỄN HỮU THỌ - NHÀ TRÍ THỨC YÊU NƯỚC"

 

Kỳ thứ sáu là bài viết:" LUẬT SƯ NGUYỄN HỮU THỌ - NHÀ TRÍ THỨC YÊU NƯỚC"

Tiểu sử


Luật sư Nguyễn Hữu Thọ (1910 – 1996)

Luật sư - Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ, bí danh là Ba Nghĩa, sinh ngày 10/7/1910 trong một gia đình công chức trung lưu tại làng Long Phú, tổng Long Hưng Hạ, quận Trung Quận, tỉnh Chợ Lớn (nay thuộc thị trấn Bến Lức, tỉnh Long An).

Năm 1921, mới 11 tuổi, Nguyễn Hữu Thọ từ giã quê hương, một mình vượt đại dương sang Pháp du học. Suốt 11 năm miệt mài đèn sách xứ người, năm 1933 ông tốt nghiệp cử nhân Luật hạng ưu và trở về nước mở văn phòng luật tại Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ rồi Sài Gòn - Chợ Lớn.

Được trực tiếp chứng kiến cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940 và sự đàn áp dã man của thực dân Pháp cũng như những phiên tòa do thực dân Pháp dựng lên để buộc tội các chiến sĩ khởi nghĩa Nam Kỳ đã giúp luật sư tiếp cận thực tại cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, cảm nhận được lòng yêu nước đỡ, tinh thần chiến đấu kiên cường và lý tưởng cao đẹp của những người cộng sản, thấy rõ bản chất thâm độc, tàn bạo, tội ác man rợ của chính quyền thực dân và thuộc địa.

Sự nghiệp cách mạng

Trong khí thế hào hùng của dân tộc trong cách mạng tháng Tám; cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân Nam bộ - thành đồng của tổ quốc; sự tham gia hành ngũ kháng chiến ngày càng đông đảo của các nhân sĩ, tri thức có tên tuổi và có địa vị cao trong xã hội, trong đó có cả bạn bè, đồng nghiệp đã thôi thúc luật sư dấn thân vào con đường đấu tranh giải phóng dân tộc.

Từ năm 1947 đến năm 1950, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ tham gia vào nhiều phong trào yêu nước ở Miền Nam như phong trào của trí thức Sài Gòn - Chợ Lớn. Mặt trận liên Việt rồi được bí mật kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương, tham gia cuộc biểu tình chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ năm 1950. Đây là cuộc biểu tình chống Mỹ đầu tiên ở nước ta. Những người biểu tình giương cao ngọn cờ đỏ sao vàng, đốt xe Mỹ, xé cờ Mỹ. Khí thế đấu tranh sục sôi của cả nửa triệu nhân dân thành phố đã buộc hai tàu chiến của Mỹ rút khỏi cảng Sài Gòn, ra khỏi miền Nam Việt Nam…

Lo sợ trước sự ảnh hưởng to lớn của luật sư đối với nhân dân, tri thức và nhân dân Sài Gòn - Gia Định nói riêng. Nam bộ nói chung, thực dân Pháp đã bắt đày luật sư ra Bắc quản thúc tại Bản Giẳng, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, nơi mà “một tiếng gà gáy cả ba nước cùng nghe” và sau đó khi quân đội nhân dân Việt Nam tiến lên giải phóng Tây Bắc thì chúng đưa luật sư về giam ở Sơn Tây.

Trước phong trào đấu tranh mạnh mẽ của Đoàn Luật sư và nhân sĩ, trí thức tên tuổi Sài Gòn - Gia Định, tháng 11 năm 1952 luật sư được trả tự do về Sài Gòn, mở lại văn phòng Luật và tiếp tục chiến đấu với kẻ thù ngay tại sào huyệt của chúng. Từ đó luật sư Nguyễn Hữu Thọ tiếp tục tham gia tổ chức hoạt động hàng loạt phong trào cách mạng. Để ngăn chặn ảnh hưởng to lớn của luật sư, ngày 15-11-1954, chính quyền bù nhìn Sài Gòn đã bắt giam và lưu đầy luật sư gần 7 năm ở Tuy Hòa và miền núi Củng Sơn, Phú Yên.

Tháng 2-1962, Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam tiến hành đại hội lần thứ nhất. Tại đại hội, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ được bầu làm chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, trực tiếp lãnh đạo cuộc chiến đấu đầy gian khổ hy sinh của đồng bào và chiến sỹ miền Nam.

Tháng 3-1964 Đại hội lần thứ hai Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam bầu luật sư làm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

Luật sư Nguyễn Hữu Thọ thăm quân giải phóng tại miền Đông Nam Bộ năm 1964

Nhà tri thức yêu nước vĩ đại

Dưới sự lãnh đạo của trung ương Đảng, với cương vị của mình, Luật sư - chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ đã góp phần to lớn động viên quần chúng và nhân dân miền Nam tiến hành cuộc tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân 1968, buộc đế quốc Mỹ phải xuống thang ngồi vào bàn đàm phán tại Hội nghị Paris, với sự có mặt của đại diện Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

Ngày 6-6-1969 tại đại biểu quốc dân miền Nam Việt Nam, luật sư được cử giữ chức Chủ tịch Hội đồng cố vấn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Với cương vị người đứng đầu Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Chủ tịch Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, được sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, với sự chi viện sức người, sức của của đồng bào miền Bắc và sự giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và bạn bè quốc tế, bằng đức độ, tài năng và uy tín của mình, luật sư đã lãnh đạo Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và cùng với Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam tập hợp đoàn kết, động viên quân và dân miền Nam tiến hành cuộc đấu tranh vũ trang, chính trị, ngoại giao, binh vận gay go và ác liệt vào bậc nhất trong thế kỷ XX chống đế quốc Mỹ xâm lược và ngụy quyền Sài Gòn theo lời kêu gọi thiêng liêng và phương châm chiến lược mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra là: “không có gì quý hơn độc lập tự do”, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” và đã giành được thắng lợi hoàn toàn, đất nước thống nhất, Bắc - Nam sum họp một nhà.


Luật sư Nguyễn Hữu Thọ và gia đình (ảnh chụp năm 1952)

Sau khi thống nhất đất nước, đồng chí Nguyễn Hữu Thọ được nhân dân bầu làm đại biểu Quốc Hội các khóa VI, VII, VIII và được Quốc hội tín nhiệm bầu làm Phó Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (tháng 6-1976). Quyền Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (tháng 4-1980), Chủ tịch Quốc hội và Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (tháng 7-1981).
Về công tác Mặt trận, tại Đại hội thống nhất các tổ chức Mặt trận họp từ 31-1 đến 4-2-1977, luật sư được bầu làm ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tháng 11-1988, luật sư được bầu làm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Và tháng 8-1994, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã suy tôn luật sư làm Chủ tịch danh dự Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Với cương vị của mình, Luật sư - Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ đã dành nhiều thời gian, tâm huyết tìm hiểu thực trạng, tháo gỡ khó khăn trong công tác Mặt trận, đề xuất với Đảng và Nhà nước những cơ chế, chính sách và giải pháp nhằm vun đắp, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, mở rộng và phát huy vai trò Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam trong thời kỳ mới.

Cuộc đời và sự nghiệp của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ là quá trình vận động từ chủ nghĩa yêu nước chân chính đến chủ nghĩa Cộng sản và gắn liền với sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc.

Luật sư là con người tiêu biểu của tinh thần đại đoàn kết dân tộc, là một nhà lãnh đạo tài năng, là một tấm gương sáng về đạo đức, tác phong, lối sống giản dị, khiêm tốn, trong sạch, hy sinh vì nghĩa lớn, không khuất phục trước cường quyền, không sa ngã trước tiền tài danh lợi, vì lý tưởng cộng sản cao đẹp. Luật sư - Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ đã hiến dâng trọn đời cho Tổ quốc, cho dân tộc. Như Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh đã đánh giá: “Luật sư Nguyễn Hữu Thọ quả là một nhà trí thức yêu nước vĩ đại”.

Với những công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ được Đảng và Nhà nước tặng Huân chương Sao Vàng, huân chương cao quý nhất của Đảng, Nhà nước ta và nhiều huân, huy chương cao quý khác. Luật sư cũng được Nhà nước Liên Xô (trước đây) tặng Giải thưởng Quốc tế V.I. Lênin và Huân chương Hữu nghị vì sự nghiệp củng cố hòa bình giữa các dân tộc; Nhà nước Cuba tặng huân chương Đoàn kết - chiến đấu; Nhà nước Bungari tặng giải thưởng Đimitrôp; Hội đồng hòa bình thế giới tặng Huân chương Joliot Curie.

Các bài viết thuộc tác quyền của Văn phòng luật sư Trương Anh Tú, mọi hình thức sao chép phải được sự chấp thuận của Văn phòng luật sư Trương Anh Tú, mọi hình thức sao chép trái phép là vi phạm pháp luật và bị xử lý theo quy định về quyền tác giả.

Hết kỳ 6.

----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

 

Trăm năm nghề luật & những luật sư nổi tiếng/ Kỳ 7: LUẬT SƯ VŨ TRỌNG KHÁNH (1912 - 1996)

 

Kỳ thứ bảy là bài viết:"LUẬT SƯ VŨ TRỌNG KHÁNH (1912 - 1996) "


LUẬT SƯ VŨ TRỌNG KHÁNH (1912 - 1996)


Tuổi trẻ & Học vấn

Luật sư Vũ Trong Khánh sinh ngày 13 tháng 3 năm 1912 (một số tài liệu khác lại ghi rằng ông sinh năm 1913) trong một gia đình tiểu thương ở Hà Nội, nguyên quán tại làng Cự Đà, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội), để đến quê hương ông chúng ta xuất phát từ Ngã Tư Sở, đi theo quốc lộ 6 đến ngã tư Bala - Bông Đỏ, rẽ trái, đi thêm chừng 4 - 5km nữa thì rẽ trái đến bờ con sông Nhuệ đó chính là làng Cự Đà, nơi nổi tiếng với nghề làm tương.

Thủa nhỏ, ông theo học ở Trường Lyceé - Albert Sarraut (từ khi 11 tuổi cho đến 21 tuổi), và đã sớm chịu ảnh hưởng từ các phong trào yêu nước như đòi thả cụ Phan Bội Châu, để tang cụ Phan Chu Trinh, khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc dân đảng do lãnh tụ Nguyễn Thái Học khởi xướng…Sau khi đỗ tú tài ở Trường Lyceé Albert Sarraut (trụ sở của trường TPTH Trần Phú tại phố Hai Bà Trưng, Hà Nội ngày nay), ông theo học Trường Đại học Luật Đông Dương, tại đây ông đã quen biết nhiều sinh viên yêu nước trong đó có Nguyễn Thế Rục người đã giới thiệu ông tham gia hoạt động tại Tổng Hội Sinh viên Đông Dương.

Năm 1936, ông tốt nghiệp cử nhân Luật và lựa chọn con đường riêng của mình, làm thư ký cho luật sư Laubies người Pháp tại Hải Phòng. Năm 1939 ông được công nhận là luật sư tập sự (một số tài liệu ghi năm 1941). Mặc dù là luật sư tập sự, nhưng trong thời gian tập sự, ông đã được luật sư Laubies giao quyền thay mặt mình để tranh tụng trước tòa nhiều vụ án, bào chữa cho nhiều chiến sỹ cách mạng tại Tòa án của chính quyền thực dân Pháp. Sau một thời gian khoảng 4 đến 5 năm ông trở thành luật sư chính thức. Với tài hùng biện của mình, luật sư Vũ Trọng Khánh nhanh chóng được sự mến mộ của nhân dân Hải Phòng.

Sự nghiệp và con đường chính trị

Sau khi Nhật đảo chính Pháp, chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập tháng 4 năm 1945. Tháng 7 năm 1945, ông được chính phủ này bổ nhiệm làm Đốc lý Hải Phòng (tương đương Thị trưởng). Với mối quan hệ cũ từ thời Mặt trận Bình dân, các cán bộ Việt Minh đã vận động ông tham gia mặt trận. Ngày 23 tháng 8 năm 1945, Tổng khởi nghĩa thành công ở Hải Phòng, Vũ Trọng Khánh có tên trong danh sách Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời thành phố với tư cách là Ủy viên hành chính, sau đó được phân công chức vụ Thị trưởng Hải Phòng. Lý do ông nhận chức vụ này đã được ông bộc bạch rõ trong hồi ký "Tôi làm thị trưởng Hải Phòng" : "Lý do cấp bách tôi phải nhận làm Thị trưởng là sau khi Nhật đảo chính Pháp, thành phố như con ngựa đứt cương; công chức và nhân dân tụ tập, bàn tán, nghe ngóng, không ai cầm đầu. Viên lãnh sự Nhật Nô-mi chịu trách nhiệm hành chính thực ra chẳng biết làm gì, quân đội và hiến binh Nhật nắm chặt an ninh. Những tên Việt gian tống tiền; dịch vụ hốt rác đổ thùng phân trì trệ, nước, điện chập chờn… Không có người lương thiện ra nắm quyền chỉ huy thì kẻ bất lương chạy chọt sẽ nhảy vào ghế Thị trưởng để dựa vào Nhật làm hại dân. Nhất thiết tôi phải nắm ngay ghế Thị trưởng".



Luật sư Vũ Trọng Khánh có công lớn trong việc  giành chính quyền ở thành phố Hải Phòng.

Với những lời bộc bạch chân thành đã thể hiện rõ tinh thần yêu nước, thương dân và khả năng nhạy bén trên con đường chính trị của luật sư Vũ Trọng Khánh.

Sau một tháng làm Thị trưởng Hải Phòng, chiếm lĩnh các cơ quan, chiếm lĩnh ngân hàng, nắm lấy cảnh sát, trại giam, bảo an binh, thả tù chính trị là Việt Minh, ngăn cản bọn thân Nhật mở sòng bạc, đôn đốc điện, nước, vệ sinh hơn thời gian Pháp thuộc… ông đã bàn giao lại chính quyền thành phố cho mặt trận Việt Minh. Chủ quyền nhanh chóng trở về trong tay quần chúng nhân dân Hải Phòng mà không phải mất một viên đạn, một giọt máu.

Khi chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra mắt quốc dân, ông được cử làm Bộ trưởng Tư pháp đầu tiên của Việt Nam vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Ngày 20 tháng 9 năm 1945, ông được cử tham gia Ủy ban dự thảo Hiến pháp.

Trên cương vị Bộ trưởng, ông đã trình và được chính phủ duyệt bốn văn bản tư pháp nền tảng quan trọng: Sắc lệnh số 4 ngày 10/10/1945 về tổ chức đoàn luật sư; Sắc lệnh số 53 ngày 20/10/1945 về quy định quốc tịch Việt Nam; Sắc lệnh số 13 ngày 21/1/1946 về tổ chức các tòa án thường và ngạch thẩm phán; Sắc lệnh số 21 ngày 14/2/1946 về tổ chức tòa án quân sự.

Sau khi chính phủ mới được thành lập ngày 2 tháng 3 năm 1946, ông trở thành chuyên viên tư pháp của chính phủ. Ngày 3 tháng 5 năm 1946, ông được của tham gia Hội đồng phúc thẩm. Ngày 4 tháng 6 năm 1946, ông được cử làm Cố vấn cho Phái đoàn Việt Nam sang đàm phán tại Paris.

Tuy chỉ giữ chức vụ Bộ trưởng Tư pháp trong 181 ngày nhưng ông đã có những đóng góp quan trọng trong việc giữ gìn cơ sở, cán bộ cũng như xây dựng hệ thống tư pháp cho nền cộng hòa non trẻ.



Chủ tịch Hồ Chí Minh và luật sư Vũ Trọng Khánh - Bộ trưởng
Bộ Tư Pháp (ngoài cùng, bên trái)

Lý do ông không tiếp tục làm Bộ trưởng Bộ Tư pháp sau ngày 2 tháng 3 năm 1946 được con trai ông là TS Vũ Trọng Khải giải thích như sau: Điều 47, Hiến pháp 1946 ghi: “… Thủ tướng chọn các Bộ trưởng trong Nghị viện và đưa ra Nghị viện biểu quyết toàn thể danh sách…”. Tức là Bộ trưởng nhất thiết phải là đại biểu Quốc hội (chính vì Hiến pháp 1946 quy định Bộ trưởng phải là nghị viên (đại biểu quốc hội) nên Luật sư Vũ Trọng Khánh, do không đắc cử đại biểu Quốc hội ở Hải Phòng, không được giữ chức Bộ trưởng Tư pháp trong Chính phủ chính thức và chuyển sang giữ chức vụ Chưởng lý Tòa thượng thẩm, tức Viện trưởng Viện công tố tại Tòa án tối cao, và cụ Vũ Đình Hòe (luật gia) rời chức Bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục trong Chính phủ lâm thời để nhận chức Bộ trưởng Bộ Tư pháp trong Chính phủ chính thức.

Mặc dù không còn làm Bộ trưởng Bộ Tư pháp, luật sư Vũ Trọng Khánh vẫn được Hồ Chí Minh tín nhiệm ký Sắc lệnh cử làm Chưởng lý Tòa Thượng thẩm Bắc Bộ (nay là Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao) nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 4 tháng 6 năm 1946, luật sư Vũ Trọng Khánh được cụ Huỳnh Thúc Kháng, Quyền Chủ tịch Chính phủ ký Sắc lệnh cử làm Cố vấn Phái đoàn Việt Nam sang đàm phán tại Hội nghị Phong-ten-nơ-blo.
Trong suốt thời gian chín năm kháng chiến chống Pháp, ông làm Giám đốc Tư pháp Liên khu 10 (gồm sáu tỉnh: Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Yên, Phúc Yên…), Trưởng ban Nghiên cứu pháp lý, Giám đốc Vụ Hành chính tư pháp - Bộ Tư pháp. Ngày 18 tháng 6 năm 1949, ông được cử tham gia Hội đồng tư vấn luật, với chức năng soạn thảo những dự án luật. Trong suốt thời gian kháng chiến chống Pháp, ông đã tham gia soạn thảo nhiều văn bản pháp quy cho hệ thống luật chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Hiệp định Genève, được ký kết năm 1954, luật sư Vũ Trọng Khánh về tiếp quản Hải Phòng (tháng 5/1955), giữ chức Ủy viên hành chính (tháng 8/1955-  tháng 12/1956), Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính TP Hải Phòng thường trực quản lý Hành chính, Văn hóa xã hội và Nhà đất (tháng 12/1956 - tháng 4/1961), Ủy viên Hội đồng nhân dân thành phố, Trưởng ban Vận trù học, Phó Chủ tịch MTTQ thành phố, Chủ tịch Hội Luật gia Hải Phòng… cho đến khi nghỉ hưu năm 1977. Tình cảm của nhân dân Hải Phòng đã giữ chân ông ở lại với thành phố này cho tới khi tạ thế.

Ghi nhận những thành tích của cụ, Nhà nước ta đã tặng thưởng luật sư Vũ Trọng Khánh Huân chương Kháng chiến hạng Nhất (21/4/1961), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng nhất (20/12/1986) và Huân chương Hồ Chí Minh (31/3/1994).

Luật sư Vũ Trọng Khánh mất đầu năm 1996, trong sự tiếc thương vô hạn của nhân dân Hải Phòng, thành phố nơi ông đã cống hiến phần lớn cuộc đời mình. Là hậu bối của ông, tôi có một thắc mắc rằng: Không hiểu trong một giai đoạn dài, nước nhà không có luật sư (không được hành nghề), ông có suy nghĩ gì, liệu trong vai trò của một luật gia đã thỏa mãn những khát vọng nghề nghiệp của ông, nhưng có một điều mà tôi chắc rằng trước khi mất, hẳn ông thấy vui khi nghề, nghiệp của mình đã được hoạt động trở lại (pháp lệnh luật sư năm 1987). Tiếc rằng ông không còn ở lại với chúng ta để được chứng kiến sự phát triển của nghề luật.

Các bài viết thuộc tác quyền của Văn phòng luật sư Trương Anh Tú, mọi hình thức sao chép phải được sự chấp thuận của Văn phòng luật sư Trương Anh Tú, mọi hình thức sao chép trái phép là vi phạm pháp luật và bị xử lý theo quy định về quyền tác giả.

Hết kỳ 7.

------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

 

Trăm năm nghề luật & những luật sư nổi tiếng/ Kỳ 8: LUẬT SƯ PHAN ANH (1912 - 1990)

 

Để tôn vinh những luật sư có nhiều cống hiến cho đất nước, VPLS Trương Anh Tú sẽ giới thiệu đến bạn đọc loạt bài viết về những luật sư như tiêu biểu trong suốt chiều dài hơn 100 năm của nghề luật.

Kỳ thứ tám là bài viết:"LUẬT SƯ PHAN ANH ( 1912 - 1990) "



Luật sư Phan Anh (1912 - 1990)

Tiểu sử

Theo các tài liệu được ghi chép lại thì luật sư Phan Anh sinh ngày 01 tháng 03 năm 1912 tuy nhiên theo ông Phan Tân Hội (con trai của luật sư Phan Anh) thì ông sinh ngày 16 tháng 12 năm 1911 tại làng Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Thân phụ của ông là nhà nho Phan Điện. Ông còn có một người em ruột là Phan Mỹ cũng là một luật sư (từng là Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Phủ Thủ tướng).

Mồ côi mẹ từ năm 10 tuổi, ông cùng với người em theo cha lưu lạc khắp nơi. Tuy sống cực khổ, nhưng được sự giáo dục của cha, cả 2 anh em ông đều học giỏi. Năm 1926, ông giành được suất học bổng nội trú của trường Bưởi, Hà Nội -  ngôi trường dành cho những trí tuệ sáng láng nhất trong giới học sinh.

Sau khi tốt nghiệp Tú tài, ông theo học ngành Luật tại Trường Đại học Đông Dương, Hà Nội. Trong thời gian theo học ở đây, ông tham gia hoạt động xã hội, là Chủ tịch Tổng hội sinh viên và vào Đảng Xã hội Pháp. Vừa học, ông vừa tham gia dạy học ở trường Gia Long và trường Thăng Long.

Năm 1937, ông tốt nghiệp Cử nhân Luật tại trường Đại học Đông Dương với vị trí thứ 2 chỉ sau một người Pháp. Năm 1938, ông sang Pháp du học để trình luận án Tiến sĩ Luật, nhưng Thế chiến thứ hai bùng nổ nên ông không kịp bảo vệ luận án và phải về nước năm 1940, mặc dù đã hoàn thành luận án. Trở về nước, ông hành nghề luật sư tại văn phòng của luật sư Bùi Tường Chiểu.

Năm 1940, ông cùng Vũ Đình Hòe, Vũ Văn Hiền, thành lập báo Thanh Nghị (1941-1945) mong muốn đóng góp ý kiến của nhóm ông trước quốc dân. Ông là một trong 5 cây bút trụ cột của báo này, phụ trách nhiều chuyên mục của báo. Tuy là một luật sư nhưng nhờ biết chữ Hán, thông hiểu triết, văn, sử Trung Hoa (cả cổ học và tân học) nên các bài viết của ông rất có giá trị về cả phổ thông và chuyên môn.

Sự nghiệp chính trị

Trở về nước, ông đã không cam chịu hành nghề chỉ để làm giàu mà ông đã công khai bộc lộ quan điểm ái quốc thương dân, cố gắng làm mọi việc có thể làm được để góp phần vào cuộc đấu tranh giành lại nền độc lập tự do cho dân tộc. Chính ông đã cùng ông Vũ Đình Hoè và ông Vũ Văn Hiền lập ra Tạp chí Thanh Nghị năm 1941, thoạt đầu ra hằng tháng rồi ra hàng tuần, để bộc bạch tâm nguyện kẻ sĩ chân chính của đất Việt: "Người ấy phải vì lợi ích dân chúng, là người quan sát không thiên vị và phải thường xuyên có liên hệ với nhân dân.

Vì vậy, kẻ sĩ có thể ảnh hưởng đến nhân dân và góp phần làm biến đổi xã hội". Tạp chí Thanh Nghị tồn tại cho tới năm 1945, tập trung nhiều cây bút trí thức tâm huyết với dân, với nước lừng lẫy một thời.

Luật sư Phan Anh cũng từng tham gia bào chữa cho nhiều chiến sĩ hoạt động cách mạng, không may bị sa vào tay chính quyền thực dân Pháp. Tất nhiên, do cơ chế thời thuộc địa nên những nỗ lực và thiện ý của luật sư Phan Anh không thể mang lại kết quả như mong muốn, nhưng ít ra thì ông cũng đã bộc bạch được lòng dũng cảm và trượng nghĩa của mình. Tiêu biểu cho hoạt động tham gia bào chữa giúp nhiều chiến sĩ hoạt động cách mạng đã có một câu chuyện được chính ông Hoàng Minh Chính (một chiến sĩ cộng sản, sau này là Tổng bí thư Đảng dân chủ) kể lại cho ông Vũ Đình Hòe về việc nhờ tài bào chữa của luật sư Phan Anh mà Hoàng Minh Chính đã thoát được án tử hình trong gang tấc. Vũ Đình Hòe hồi tưởng lại câu chuyện này trong cuốn hồi ký của mình như sau:

Một ngày đầu tháng 6 - 1993, anh Hoàng Minh Chính, tổng bí thư Đảng dân chủ, thời gian sau cách mạng tháng Tám, đến chơi vẫn giọng sôi nổi như bao giờ, anh vồ lấy tôi: “Anh Hòe ạ, hôm nay lại tìm anh đây. Vì tôi vừa đọc xong bản hồi ký của anh viết về báo Thanh Nghị và nhóm Thanh Nghị”.

Ở chương đầu, anh có nói tình cảm của nhóm anh với người Cộng sản chúng tôi. Tôi nhớ lại kỷ niệm  lần đầu tiên tôi được gặp anh Phan Anh. Gặp trên vị trí một thân chủ “ngẫu nhiên” của nhà luật sư trẻ, mới vào nghề mà đã nổi tiếng…
Số là hồi ấy (cuối năm 1940), tôi được Đoàn thể giao nhiệm vụ tạo một tiếng nổ lớn ngay Hà Nội để hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ…

Tôi và hai đồng chí nữa, trong đó có một nữ đặt sào huyệt ở căn gác xép một nhà ở phố Hàng Nón. Công việc đang chuẩn bị khẩn trương, thì một đêm, có tiếng gõ cửa quen quen. Vừa hé cánh cửa thì mấy tên mật thám đã xộc vào, đằng xa thấp thoáng bóng bọn chúng bao vây ở mấy ngã phố.

Bị lộ rồi! Thế là chúng trói tay cả ba đứa, quét sạch, moi móc hết mọi thứ từ dưới sàn gác, từ các hốc tường, nào là cờ búa liềm, truyền đơn kêu gọi khởi nghĩa, nào là dao găm, súng ngắn, chất nổ… Chúng ẩy tôi lên chiếc ô tô hòm gỗ lù lù ở trước hè, chạy ào xuống trại lính Đồn Thủy. Ông “Tây đen” (người Ấn) gác cổng nhà giam lẩm bẩm: “Mấy thằng nhãi nhép, chắc hẳn lần này là mất đầu!”.

Hôm sau, ông kể chuyện bâng quơ với bạn, tôi nghe lỏm được: “Tháng trước đây thôi, một anh công nhân của đội quảng cáo thành phố, vác thang xách hồ dán, bị bắt ở ngã năm Tràng Tiền trước nhà hát Tây. Vì cách đấy một sải đường có truyền đơn cộng sản vừa dán xong trên cột đèn…”. Có phải chính anh này dán không? Chưa chắc. Thế mà chúng mở phiên Tòa án binh, lên án anh tù chung thân.

Anh Chính kể tiếp. Tôi cứ nghĩ mãi, không tìm ra vì đâu cơ quan bị lộ. Quy tắc “bem” chúng tôi đã giữ hết cỡ. Cuối cùng… đúng rồi. Trong bọn mình có nữ. Đây là một thôn nữ nhưng rất xinh. Đi đâu ra đường, tôi thường kèm theo chị, theo ở đằng sau thôi. Thấy tụi thanh niên trong phố cứ nhìn hút chị, có vẻ thèm thuồng, hay còn có ý khác? Thật là tôi còn non nớt, thiếu cảnh giác!

Một buổi sáng, tiếng kèn nhà binh vừa dứt, thì lão Tây đen gác nhà giam mở đánh xoạch cánh cửa lim. Đứng đằng sau lưng ổng là một chàng trai, ăn mặc chững chạc, lùn, phốp pháp, đầu húi “ca - rô”. Anh ta ngửng lên nhìn vào mặt ông gác mỉm cười nói: “Xin lỗi ông. Tôi muốn nói chuyện riêng với y”. Ông gác hiểu, chào rồi quay gót.

Vị khách lạ bắt tay tôi, tự giới thiệu:

Tôi là Phan Anh, luật sư của anh. Anh có nhận tôi “cãi” cho anh không? - Tôi trả lời liền:

Được thôi, cảm ơn. Chỉ xin luật sư khi phát biểu trước Tòa không nên nói điều gì xúc phạm đến danh dự Đảng tôi.

Tốt, Tôi hứa! Tôi không hỏi anh gì nhiều đâu. Tôi nắm hết sự việc rồi. Chỉ dặn anh nói rõ cho “Họ” biết anh học ở đâu, với thầy nào. Anh bao nhiêu tuổi? Điều này rất quan trọng. Cứ khai là 14 tuổi đi, nhỏ đấy: Chỉ cần thế thôi. Rồi mặc tôi.

Tôi nghĩ bụng: “Mình mười sáu tuổi. Thôi cũng được, mặt non choẹt ấy mà!”……….

Ra tòa. Phiên tòa được canh gác thật ghê gớm: Một trung đội lê dương, vòng trong vòng ngoài. Lính mật, cảnh sát không kể. Chánh án là một Quan Tư. Công cán ủy viên là một thiếu tá.

Sát khí đằng đằng!...

Đến lượt luật sư phát biểu, ông vung tay áo thụng đen súng sính, giọng nghiêm nghị: “Thưa tòa. Tôi không dài lời. Chỉ xin một điều. Mời các ngài nhìn kỹ đầu, mặt, dáng dấp của các bị cáo. Họ vừa khai tuổi với quý tòa. Họ cũng khai đang theo học trường Thăng Long. Tôi dạy học ở đấy. Họ rất quý mến các thầy giáo của họ, bảo sao nghe vậy. Họ học gì? Thưa, Họ học lịch sử cách mạng nước Pháp. Cả chúng tôi. Thầy và trò đều kính phục những Veroin- gétorix, Jeanne d’Are, những Danton, Marat, Robespierre.”


Luật sư Phan Anh đập tay xuống bàn, dằn từng tiếng: “Họ có tội. Tôi công nhận. Nhưng tội này là tại ai? Ai là thủ phạm? Xin tòa xét kỹ. Tôi hết!”

Tòa tuyên án.

Trước đó, bọn bị cáo chúng tôi chắc mẫm sẽ lên đoạn đầu đài đến nơi rồi! Nên bảo nhau chuẩn bị lời nói cuối cùng, mỗi người một kiểu, nhưng sao cho xứng với tên gọi: Người đảng viên “Hội kín”; người Cộng sản!

Thế mà, án tuyên: Tôi Hoàng Minh Chính - đầu sỏ tổ cộng sản Hàng Nón, âm mưu lật đổ chính phủ, chịu án 15 năm khổ sai, cộng 15 năm cầm cố!

Một ngày sau, lại chiếc xe hỏa kín giải chúng tôi lên Sơn La. Ở đó, ít lâu sau, có anh em bên ngoài tuồn vào cho xem bài anh Phan Anh viết trên báo Thanh Nghị về cách mạng Trung Hoa. Mừng quá đỗi… Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, bọn tù Sơn La chúng tôi phá ngục trởi về Hà Nội. Đọc tiếp báo Thanh Nghị càng quý các anh”.


Nói về hoạt động tham gia bào chữa cho các chiến sĩ Việt Minh. Đã có lần luật sư Phan Anh bộc bạch: “Làm thầy cãi mà có lẽ là duy nhất cãi cho nhiều người yêu nước chống Pháp, tôi biết nhiều chuyện về phong trào Việt Minh. Tôi rất khâm phục tinh thần hiên ngang bất khuất trước quân thù của họ, nễn đã cố gắng làm nhiều điều bênh vực những con người chân chính đó”.

Sau khi Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương ngày 9 tháng 3 năm 1945, Vua Bảo Đại mời luật sư Phan Anh và một số trí thức trẻ vào Huế tham khảo ý kiến về việc Nhật "trao trả độc lập" cho Việt Nam và để thành lập nội các mới. Sau đó ông được mời giữ chức Bộ trưởng Bộ thanh niên trong chính phủ Trần Trọng Kim. Thời gian này, ông cùng GS. Tạ Quang Bửu có sáng kiến thành lập trường Thanh niên tiền tuyến Huế (còn gọi là Thanh niên Phan Anh, Thanh niên Xã hội). Cùng thời điểm, ông là thành viên của Hội đồng soạn thảo Hiến pháp kiêm thuyết trình viên (theo Dụ số 6 ngày 30 tháng 6 năm 1945) để soạn thảo một Hiến pháp cho nước Việt Nam mới (Đế quốc Việt Nam).



 Trường thanh niên tiền tuyến Huế (Tháng 7/1945

Cách mạng tháng Tám bùng nổ, ông từ chức cùng với nội các Trần Trọng Kim về sống tại Hà Nội. Sau khi Quốc hội khóa I được bầu cử ngày 6 tháng 1 năm 1946 và thành lập Chính phủ Liên hiệp Quốc gia, ông được mời giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Đến tháng 7 năm 1946, ông được Chính phủ giao chức Tổng thư ký phái đoàn Chính phủ Việt Nam (Trưởng đoàn là Phạm Văn Đồng) đi dự hội nghị Fontainebleau đàm phán với chính phủ Pháp.



Toàn cảnh Hội nghị Genève tháng 7/1954

Sau ngày Toàn quốc kháng chiến, 19 tháng 12 năm 1946, ông tham gia kháng chiến chống Pháp suốt 9 năm (1946-1954). Năm 1948, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Kinh tế, năm 1954 là Bộ trưởng Bộ Công thương. Tháng 7 năm 1954, ông là phái viên phái đoàn Việt Nam tham dự Hội nghị Genève

Sau năm 1954, ông liên tục giữ các chức vụ Bộ trưởng Bộ Kinh tế (từ tháng 5 năm 1951 đổi tên là Bộ Công thương), Bộ trưởng Bộ Thương nghiệp (từ tháng 9 năm 1955 đến tháng 4 năm 1958), Bộ trưởng Bộ Ngoại thương (từ tháng 4 năm 1958 đến năm 1976) trong Chính phủ Việt Nam, Phó Chủ tịch Quốc hội Việt Nam.

Ông là người cùng với Luật sư Nguyễn Mạnh Tường sáng lập hội Luật gia Việt Nam làm chủ tịch hội và thường vụ hội Luật gia quốc tế; Chủ tịch Hội đồng Hòa bình Thế giới của Việt Nam và Phó Chủ tịch Hội đồng Hòa bình Thế giới. Từ năm 1988, ông còn là phó Chủ tịch Đoàn chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Gia đình

Phan Anh có hai người vợ. Vợ cả của ông là một người bạn cùng du học với ông bên Pháp, sau khi về nước thì xây dựng gia đình cùng nhau và sinh cho ông ba con trai, đặt tên là Long - Vân - Hội (ông Hội là người mà tác giả bài viết này có dịp gặp, trao đổi). Bà mất tại chiến khu, trong cuộc kháng chiến 9 năm. Vợ sau là bà Đỗ Thị Hồng Chỉnh, bà Chỉnh là cháu ruột (con người anh trai) của bà cả. Số là trước khi qua đời, theo di nguyện của bà cả, muốn một người trong họ hàng thay mình chăm sóc chồng con, nên không ai phù hợp hơn bà Chỉnh - khi đó là một dược sỹ bán thuốc tây tại phố Hàng Bạc, do đó bà Chỉnh trở thành bà hai của luật sư Phan Anh. Bà sinh ra ba con trai, đặt tên là Tùng - Dương - Thạch, hiện bà sống ở Hà Nội với người con trai út.



Luật sư Phan Anh và vợ hai

Một số thông tin khác về luật sư Phan Anh

Có một điều về luật sư Phan Anh mà có lẽ không nhiều người biết về ông, đó là ngoài là một Luật sư nổi tiếng, người từng đảm nhận 5 vị trí bộ trưởng (Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng, bộ Kinh tế, bộ Công thương, bộ Thương nghiệp, bộ Ngoại thương) thì ông còn là một người có tài làm thơ bằng “lẩy” Kiều, tập Kiều. Những bài thơ bằng lẩy Kiều, tập Kiều của ông phản ánh sinh động nhiều cuộc họp ở chiến khu Việt Bắc, đến nỗi Bác Hồ phải khen: “Chú Anh thật là một ổ Kiều”.

Là một trí thức theo nền văn hóa Tây âu, nhưng thơ ông vẫn mang hồn văn hóa phương Đông rất đậm nét, lại phảng phất một chút duyên trữ tình, nên dễ đi vào lòng người. Ngoài sở trường làm thơ lục bát, lẩy Kiều, tập Kiều… ông còn làm thơ mới, thơ theo thể Đường luật… Trong số nhiều bài thơ gia đình ông  vẫn lưu giữ  có bài thơ nổi tiếng của Bác gửi cho ông và ông đã họa lại Bác. Xin chép bài thơ trên của ông ra đây để cùng thưởng thức và thấy được sự đa tài của một người trong “thế hệ vàng” Việt Nam:

Bài thơ Bác Hồ gửi ông Phan Anh:

Đêm khuya nhân lúc quan hoài

Nên câu thơ thẩn cho ai họa vần

Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa

Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ

Chưa ngủ vì lo việc nước nhà.

Nước nhà gặp lúc gay go

Trăm việc ngàn công đều phải lo

Giúp đỡ nhà anh em gắng sức

Sức nhiều thắng lợi lại càng to


Ông Phan Anh họa lại:

Họa vần xin gửi cho ai,

Đường xa, xe tạm quan hoài nước non.

Quanh co dòng suối cảnh đường xa.

Trời có trăng mà núi có hoa.

Trăng sáng bao la trời đất nước.

Hoa thơm phảng phát vị hương nhà

Nước nhà tuy gặp bước gay go.

Lái vững chèo dai ta chẳng lo

Vượt sóng dương buồm ta lựa gió

Thuận buồm sẽ mở cánh buồm to.


Trong những năm thập niên 50, luật sư Phan Anh được Chính phủ cử làm chủ tịch hội Luật gia Việt Nam, ông có bài thơ tập Kiều tặng các đồng nghiệp với nội dung như sau:

“Trăm năm trong cõi người ta

 Chữ quyền, chữ pháp khéo là cợt nhau

Trải qua một cuộc bể dâu

Càng nhuần chữ pháp càng sâu chữ quyền

Có quyền mà cậy chi quyền

Chữ quyền phải tách chữ chuyên khỏi vần

Đã mang lấy nghiệp vào thân

Cũng đừng trách lẫn người gần người xa

Chính cương nghị quyết Đảng ta

Quyền nằm trong pháp, pháp ra thực quyền

Pháp quyền một mối lương duyên

Duyên kia càng thắm , pháp quyền càng cao

Tiến lên dưới ngọn cờ đào

Bên quyền, bên pháp bước đều mạnh chân

Gặp phong trần, quét phong trần

Xây thanh cao, ắt được phần thanh cao

Có đâu thiên vị bên nào

Chữ quyền chữ pháp dồi dào cả hai

Hiến pháp mới đã ra đời

Pháp quyền càng tỏ càng soi lối đường

Lối đường thực hiện chính cương

Lối đường đằm thắm tình thương Bác Hồ.”


Ngoài hai bài thơ kể trên ông cung còn có nhiều bài thơ từ “lẩy Kiều” và tập Kiều nhằm cổ vũ tinh thần hăng hái thi đua sản xuất của nhân dân sau khi nước nhà giành độc lập.

Luật sư Phan Anh mất năm 1990 tại Hà Nội. Hiện tên của ông được UBND TP Hồ Chí Minh đặt cho một con đường tại phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân.

Các bài viết thuộc tác quyền của Văn phòng luật sư Trương Anh Tú, mọi hình thức sao chép phải được sự chấp thuận của Văn phòng luật sư Trương Anh Tú, mọi hình thức sao chép trái phép là vi phạm pháp luật và bị xử lý theo quy định về quyền tác giả.

Hết kỳ 8.

---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

 

Trăm năm nghề luật & những luật sư nổi tiếng/ Kỳ 9: LUẬT SƯ VŨ VĂN HIỀN (1911 - 1966)

 

Để tôn vinh những luật sư có nhiều cống hiến cho đất nước, VPLS Trương Anh Tú sẽ giới thiệu đến bạn đọc loạt bài viết về những luật sư như tiêu biểu trong suốt chiều dài hơn 100 năm của nghề luật.

Kỳ thứ chín là bài viết:"LUẬT SƯ VŨ VĂN HIỀN ( 1911 - 1966) "

Về luật sư Vũ Văn Hiền hầu như không có tài liệu nào ghi nhận về cuộc đời và sự nghiệp của ông. Ông được nhắc đến qua các vị luật sư khác cùng thời là một luật sư nổi tiếng tài ba. Tuy nhiên rất tiếc sự nổi tiếng tài ba của ông không có tài liệu nào ghi lại. Chính vì vậy mà mặc dù thu thập được các thông tin vô cùng ít ỏi của Luật sư Vũ Văn Hiền, nhưng VPLS Trương Anh Tú vẫn quyết định đưa ra bài viết về vị luật sư này. Với bài viết này chúng tôi hy vọng rằng người đọc sẽ biết hơn về luật sư Vũ Văn Hiền, đồng thời mong nhận được sự đóng góp ý kiến của những người đã từng biết đến Luật sư Vũ Văn Hiền để chúng ta có những thông tin đầy đủ về một luật sư nổi tiếng tài ba của đất nước.

Luật sư Vũ Văn Hiền (1911 - 1966), có một số tài liệu ghi ông mất năm 1963, quê huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo, mồ côi cha ngay từ nhỏ, được người bà con nuôi cho ăn học đến đỗ Tú tài Bản xứ. Từ đó tự mưu sinh học tập, đỗ Thủ khoa cử nhân Luật tại trường Đại học Hà Nội năm 1937. Cùng năm ông được học bổng du học Pháp, đậu Tiến sĩ luật khoa. Ông là tiến sỹ luật, luật sư, từng làm Bộ trưởng Bộ tài chính trong chính phủ Trần Trọng Kim.

Năm 1940 ông cùng với luật sư Phan Anh, Vũ Đình Hòe thành lập báo Thanh Nghị. Đây được coi là tạp chí tập trung nhiều cây bút tâm huyết với dân, với nước lừng lẫy một thời.



Nội các Trần Trọng Kim, từ trái sang phải : Hoàng Xuân Hãn, Hồ Tá Khanh, Trịnh Đình Thảo, Trần Trọng Kim (bị micro che mặt), Vũ Ngọc Anh, Trần Văn Chương, Trần Đình Nam, Vũ Văn Hiền, Phan Anh, Nguyễn Hữu Thi (ảnh Trung Bắc Chủ Nhật, 20.5.1945, Thư viện Quốc gia Pháp).

Sau đảo chính 9-3-1945, ông tham gia Hội đồng cải cách Tư pháp, Tài chính (do vua Bảo Đại mời), tổ chức tại Huế. Tháng 4 năm này ông được mời tham gia nội các Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Tài chính.

Sau ngày 19/12/1946 ông ở lại Hà Nội, mở Văn phòng luật sư và không tham gia các hoạt động chính trị. Trong ký ức của cụ Nguyễn Bắc (người từng giữ chức vụ Giám đốc Sở Văn hóa thông tin Hà Nội từ năm 1954-1979) thì Luật sư Vũ

Văn Hiền là một luật sư tài ba, dũng cảm có lòng yêu nước thông qua câu chuyện có thực. Đó là khi địch bắt được một chiến sỹ của ta treo cờ đỏ sao vàng trên tháp rùa. Chúng quyết định đem ra xử công khai để răn đe.

Luật sư Vũ Văn Hiền cùng cộng sự đã nhận bào chữa miễn phí cho chiến sĩ dũng cảm ấy. Phiên tòa hôm đó có rất đông bà con tham dự. Sau phần luận tội của công tố viên, luật sư Vũ Văn Hiền đã đĩnh đạc đứng lên chất vấn bồi thẩm đoàn bằng một câu hỏi đầy bất ngờ: “Thưa các vị thẩm phán, ngày 1/6/1946, các vị có đi dự cuộc họp Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa?”.

Do chưa hiểu ý đồ của luật sư, nên mấy vị thẩm phán đành phải trả lời thật:

- Chúng tôi có đi dự!

- Các vị có biểu quyết tán thành Quốc hội đó không?

- Chúng tôi có đồng ý biểu quyết tán thành!

- Hẳn các vị còn nhớ trong kỳ họp đó, Quốc hội đã thông qua, trong đó có sự tán thành của các vị, chọn Quốc kỳ là lá cờ đỏ sao vàng. Vậy thì hành động cắm lá cờ đã được các vị công nhận ấy lên Tháp Rùa thì mắc vào tội gì?

Lúc này các vị thẩm phán mới ngã ngửa người song vẫn cố chống chế: “Hành động đó mắc vào tội gây rối trật tự trị an”.

Quay xuống phía bà con tham dự, luật sư tiếp lời: “Tất cả những người dân kéo đến xem lá cờ đỏ sao vàng đều giữ trật tự, không gây náo động, la hét hay làm ảnh hưởng gì tới trị an, trật tự hay giao thông, vậy thì làm sao có thể khép thân chủ của tôi vào tội gây rối trật tự trị an?”.

Tất cả bà con tham dự đều vỗ tay nhiệt liệt tán thưởng luật sư. Và, phiên tòa buộc phải tuyên bố bị cáo vô tội, được thả ngay trước tòa...

Qua câu chuyện đã để lại hình ảnh của vị luật sư nhanh nhẹn và nhạy bén trong thời cuộc. Một người biết đấu tranh lên tiếng bảo vệ cho đồng bào, dân tộc.

Các bài viết thuộc tác quyền của Văn phòng luật sư Trương Anh Tú, mọi hình thức sao chép phải được sự chấp thuận của Văn phòng luật sư Trương Anh Tú, mọi hình thức sao chép trái phép là vi phạm pháp luật và bị xử lý theo quy định về quyền tác giả.

Hết kỳ 9.

--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

 

Trăm năm nghề luật & những luật sư nổi tiếng/ Kỳ 10: LUẬT SƯ TRƯƠNG ĐÌNH DU - MỘT LUẬT SƯ UYÊN BÁC

 

Để tôn vinh những luật sư có nhiều cống hiến cho đất nước, VPLS Trương Anh Tú sẽ giới thiệu đến bạn đọc loạt bài viết về những luật sư như tiêu biểu trong suốt chiều dài hơn 100 năm của nghề luật.

Kỳ thứ mười : "LUẬT SƯ TRƯƠNG ĐÌNH DŨ - MỘT LUẬT SƯ UYÊN BÁC"

Luật sư Trương Đình Dũ hay Trương Đình Dzu (mà một số tài liệu tiếng Anh có ghi) sinh năm 1917 và mất năm 1991. Ông được người đời sau biết đến thông qua cuộc tranh cứ tổng thống năm 1967 của Việt Nam Cộng hòa. Song những hiểu biết đó cũng không nhiều do hầu như rất hiếm và không có các tài liệu ghi nhận về cuộc đời của ông. Trên cở sở các tài liệu tìm được, sau đây chúng tôi xin phép được sơ lược vài nét về luật sư Trương Đình Dũ.



Luật sư Trương Đình Dũ trong một cuộc hội thảo tại Sài Gòn

Sơ lược tiểu sử

Luật sư Trương Đình Dũ (1917-1991) sinh ra tại Bình Định, cũng giống như các luật sư tiền bối khác, ông theo học khoa luật - Đại học Đông Dương tại Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp cử nhân luật, ông về Cần Thơ để thực hành nghề. Năm 1945 ông chuyển lên Sài Gòn. Sau này, ông làm việc trong tổ hợp luật cùng với luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Trần Văn Khiêm. Là một người năng động và nhạy bén, ông đã đến thăm Mỹ và tham gia câu lạc bộ Rotary (một tổ chức thiện nguyện). Thời gian đó có hai hội quốc tế, một hội là Hội Lyons - Lyons Club - hội thứ hai là Hội Rotary - Rotary Club - Luật Sư Trương Đình Dũ là Hội Trưởng Hội Rotary Việt Nam. Có thời ông là Thống Đốc Hộ, hội Rotary Đông Nam Á.

Ông Trương Đình Dũ được biết đến nhiều nhất là qua cuộc vận động tranh cử tổng thống Việt Nam Cộng hòa năm 1967, liên danh với Trần Văn Chiêu (một chiến sỹ Cộng sản nằm vùng), lấy huy hiệu là "bồ câu". Trong 11 liên danh thì ông về nhì, chiếm được 17% số phiếu sau liên danh của Nguyễn Văn Thiệu - Nguyễn Cao Kỳ.

Lập trường của ông là ngưng chiến tranh, chấm dứt oanh tạc miền Bắc và mở cuộc thương thuyết với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Vì đó mà ông bị coi là thành phần thân cộng nên sau cuộc bầu cử bị nhà chức trách bắt giam đến năm 1975 mới được Tổng thống Trần Văn Hương ra lệnh thả.

Cuộc chạy đua chính trị


Trương Đình Dũ đã từng ra ứng cử chức vụ Tổng Thống hai lần. Lần thứ nhất ông tranh cử với Tổng Thống Ngô Đình Diệm, lần thứ hai ông tranh cử với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.
Lần thứ nhất, ông đã tuyên bố ý định của mình để đứng ra như là một ứng cử viên cho cuộc bầu cử tổng thống Việt Nam cộng hòa năm 1961 chống lại tổng thống Ngô Đình Diệm, nhưng ông đã bị đe dọa sau khi bị cáo buộc là đã tham gia vào quỹ bất hợp pháp của đất nước.

Lần thứ hai, năm 1967 ông tham gia tranh cử với tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Trong cuộc vận động tranh cử này ông đã sử dụng hình tượng chim bồ câu để kêu gọi vận động, các liên danh tranh cử có cuộc họp báo tại khách sạn Caravelle Sài Gòn, trong số các ứng viên tổng thống, ông là người trả lời các câu hỏi của phóng viên một cách hoàn hảo nhất. Hôm đó, có đông đảo phóng viên quốc tế tham dự, lúc ông trả lời BBC, Reuters bằng tiếng Anh, lúc quay sang trả lời phóng viên AFP bằng tiếng Pháp trước sự ngưỡng mộ của tất cả khán phòng, âu đó cũng là khả năng trời phú cho những người luật sư.



Liên danh Trương Đình Dũ đang vận động tranh cử (Sài Gòn 1967)

Ngày 3/9/1967 là ngày bầu cử, có 6 triệu cử tri thì 5 triệu thực sự đi bỏ phiếu đạt tỷ lệ 80%. Sau khi tổng kết số phiếu, liên danh Thiệu - Kỳ đắc cử với 35% tổng số phiếu, về nhì là liên danh của Trương Đình Dũ được 17% số phiếu.

Sau bầu cử cùng các ứng cử viên tổng thống khác, ông bị cáo buộc gian lận bầu cử sau khi bình chọn. Cuối cùng ông bị bắt giữ vì các giao dịch tiền tệ bất hợp pháp. Ngày 16/7/1968, Tòa án quận sự đã kết án ông 5 năm lao động khổ sai. Tuy nhiên ông đã được thả ra sau 5 tháng do áp lực công cộng của miền nam Việt Nam và của cộng đồng trong và ngoài nước.



Phu nhân luật sư Dũ phản đối xét xử chồng bà (Hình ảnh được tạp chí Life-Anh Quốc đăng tải).

Cuối đời

Sau năm 1975 Việt Nam cộng hòa sụp đổ, ông được chính phủ mời ra Hà Nội trong vai trò của một cố vấn cao cấp trong việc giải quyết các vấn đề chính trị, xã hội thời hậu thống nhất đất nước. Trong một ngôi biệt thự tại Cầu Diễn, thuộc huyện Từ Liêm, từ căn phòng làm việc riêng của mình ông đã có rất nhiều đóng góp cho chính phủ qua các bài viết, bài phân tích về tình hình miền nam sau giải phóng từ đó giúp chính phủ đưa ra nhiều chủ trương, quyết sách để ổn định xã hội sau giải phóng và nhiều vấn đề phải giải quyết của một quốc gia thời hậu chiến.

Ông mất năm 1991 tại tư gia ở Thành phố Hồ Chí Minh, không rõ ông có mấy người con (có lẽ là nhiều). Được biết một vài nguời con định cư ở Hoa Kỳ, con trai Trương Đình Hùng định cư tại Hà Lan, còn một số hiện đang cư ngụ tại Thành phố Hồ Chí Minh. Trong đó có cô con gái út tên Trang mà tác giả bài viết đã đôi lần gọi điện để tìm hiểu thông tin nhằm xây dựng bài viết này nhưng không thành.

Các bài viết thuộc tác quyền của Văn phòng luật sư Trương Anh Tú, mọi hình thức sao chép phải được sự chấp thuận của Văn phòng luật sư Trương Anh Tú, mọi hình thức sao chép trái phép là vi phạm pháp luật và bị xử lý theo quy định về quyền tác giả.

Hết kỳ 10.

--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

 

Trăm năm nghề luật & những luật sư nổi tiếng/ Kỳ 11: LUẬT SƯ NGÔ BÁ THÀNH - NGƯỜI PHỤ NỮ THÉP

 

Để tôn vinh những luật sư có nhiều cống hiến cho đất nước, VPLS Trương Anh Tú sẽ giới thiệu đến bạn đọc loạt bài viết về những luật sư như tiêu biểu trong suốt chiều dài hơn 100 năm của nghề luật.

Kỳ thứ mười một : "LUẬT SƯ NGÔ BÁ THÀNH - NGƯỜI PHỤ NỮ THÉP"



Luật sư Ngô Bá Thành (1931-2004)

Tiểu sử và học vấn

Luật sư Ngô Bá Thành (1931-2004), tên thật là Phạm Thị Thanh Vân.  Bà sinh ra tại xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, là con gái của ông Phạm Văn Huyên (bác sỹ thú y đầu tiên ở Việt Nam).

Năm 18 tuổi bà kết hôn với bác sỹ Ngô Bá Thành, khi chưa đầy 20 tuổi bà mang theo hai con nhỏ cùng chồng sang Pháp du học. Cuộc sống nơi đất khách quê người đầy dẫy những khó khăn cực nhọc, ngoài giờ học tú tài ở trường bà nhận đánh máy thuê tăng thêm thu nhập. Với khả năng nhanh nhẹn trời phú, trong cuộc thi đánh máy toàn nước Pháp, bà đã đoạt chức vô địch với kết quả 220 chữ/1 phút, và trở thành người phụ nữ Đông Dương đầu tiên vô địch tốc ký tại nước Pháp.

Bà tiếp tục theo học khoa Luật tại Đại học Paris và đỗ thủ khoa tiến sĩ luật học vào năm 26 tuổi. Tại đây Trường Đại học quốc tế Paris mời bà về làm giảng viên. Trong thời gian làm giảng viên, bà nghiên cứu thêm về luật pháp một số nước La tinh. Sau đó bà sang Tây ban Nha học luật tại Đại học Barcelona và nhận bằng tiễn sĩ xuất sắc. Tiếp đó bà nhận được học bổng của Đại học Columbia - Hoa Kỳ theo đề cử của Đại học Quốc tế Paris. Bà sang Hòa Kỳ học tại trường Đại học danh tiếng bậc nhất thế giới. Tại đây, một lần nữa bà lại có được bằng tiến sĩ Luật học với sự khâm phục của mọi người.

Với những nghị lực phi thường và sự kiên trì cố gắng bà đã trở thành nữ luật gia Việt Nam đầu tiên thông thạo ba hệ thống pháp luật Anh, Pháp và Tây Ban Nha.

Con đường sự nghiệp và tinh thần dân tộc cao đẹp


Sau khi tốt nghiệp Đại học Columbia, bà được đích thân ông Hama Rjoeld - Tổng thư ký Liên Hợp Quốc thời đó mời về làm việc cho Ban luật Quốc tế, với tư cách là nữ luật gia Việt Nam đầu tiên thông thạo ba hệ thống pháp luật Anh, Pháp và Tây Ban Nha. Tuy nhiên bà đã từ chối để nhận vị trí Giám đốc nghiên cứu khoa học kiêm Giám đốc tổ chức tại Trường Quốc tế. Đây là công việc giúp bà có thể liên hệ với giới trí thức ở Pháp và Châu Âu.

Năm 1963 bà từ giã chức vụ cao tại Đại học quốc tế Paris, rời Pháp trở về Việt Nam với mong muốn vận dụng những kiến thức của mình để phục vụ Tổ quốc. Từ đây con đường sự nghiệp của bà gắn liền với phòng trào đấu tranh giải phóng dân tộc.

Năm 1970 trong vai trò là Chủ tịch Ủy ban Phụ nữ đòi quyền sống bà đã tổ chức lễ ra mắt tại Chùa Ân Quang và đã có một bài phát biểu với lời lẽ chân thành cảm động, sắc bén, gay gắt. Bà đã chỉ rõ những việc phụ nữ không thể không làm để chung tay với phong trào đòi hòa bình, đòi lại quyền sống cho con người. Từ đó, Ủy ban Phụ nữ đòi quyền sống (sau này được mở rộng ra thành Phong trào Phụ nữ đòi quyền sống) đã trở thành một lực lượng đấu tranh đắc lực, một nỗi ngán ngại cho chính quyền Sài Gòn. Bà đã tổ chức nhiều phong trào đấu tranh cho học sinh, sinh viên, đã từng giải thoát cho tổng hội sinh viên thoát khỏi vòng vây của cảnh sát khi họp bàn triển khai phong trào đốt xe Mỹ. Ngoài ra bà còn tích cực tham gia nhiều các cuộc biểu tình với hình ảnh "tà áo dài với một cái loa cầm tay".

Đã rất nhiều lần bà đã bị bắt rồi lại được thả bởi nhờ tài diễn thuyết, đấu lý. Nhiều lần bà ra tòa để biện hộ trắng án cho học sinh, sinh viên, những người tham gia phong trào bị bắt.

Những lý lẽ, phân tích sắc bén về hòa bình và chiến tranh ở Việt Nam bà đã mang đi diễn thuyết ở nhiều nơi trên thế giới. Những tuyên ngôn, tuyên cáo của phong trào được phát đi khắp nơi. Kể cả khi bị giam trong tù bà vẫn dùng bình tưới cây làm loa, vẫn viết thư ngỏ gửi quản đốc trại giam, gửi các đoàn kiểm tra để đòi thuốc, đòi sự chăm sóc cho tù nhân… Bà đã phải nằm trong các nhà giam năm năm, bốn lần bị chính quyền Sài Gòn đưa ra xét xử. Tuy nhiên, chính dư luận phương Tây và trong lòng nước Mỹ lại bảo vệ và lên án mạnh mẽ việc bắt giam bà. Cuối cùng, bà được trả tự do và lại tiếp tục hoạt động cách mạng.

Năm 1998 bà được Ủy ban về phụ nữ của Viện Tiểu Sử Hoa Kỳ (ABI) đã bầu bà là "Người phụ nữ của năm 1998". Cũng năm đó Trung tâm tiểu sử quốc tế (IBC) bầu bà là "Người Phụ nữ thiên niên kỷ", đồng thời trao cho bà chức vụ Phó tổng giám đốc Trung tâm tiểu sử quốc tế đầu tiên khu vực Châu Á.

Sự nghiệp Chính trị.

Từ khi hoà bình lập lại, bà đã giữ nhiều trọng trách quan trọng trong cơ quan nhà nước: Phó Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam, Uỷ viên Đoàn chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Uỷ viên Đoàn chủ tịch Liên hiệp Hội KHKT Việt Nam; nguyên Chủ nhiệm Uỷ ban pháp luật của Quốc hội, đại biểu Quốc hội các khoá VI, VII, VIII, X. Ngoài  ra, bà  còn  là  thành  viên của Hiệp hội Luật sư Quốc tế Mỹ (Internation Law, and Practise American).



Hình ảnh Luật sư Ngô Bá Thành trong lần về thăm tịnh xá Ngọc Phương trước Tết Giáp Thân 2004

Ngày 3/2/2004, bà mất tại nhà riêng, thọ 73 tuổi.

Các bài viết thuộc tác quyền của Văn phòng luật sư Trương Anh Tú, mọi hình thức sao chép phải được sự chấp thuận của Văn phòng luật sư Trương Anh Tú, mọi hình thức sao chép trái phép là vi phạm pháp luật và bị xử lý theo quy định về quyền tác giả.

Hết kỳ 11.

-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

 

Trăm năm nghề luật & những luật sư nổi tiếng/ Kỳ 12: LUẬT SƯ PHẠM HỒNG HẢI VÀ CON ĐƯỜNG TỚI NGÀY VINH QUANG

 

Để tôn vinh những luật sư có nhiều cống hiến cho đất nước, VPLS Trương Anh Tú sẽ giới thiệu đến bạn đọc loạt bài viết về những luật sư như tiêu biểu trong suốt chiều dài hơn 100 năm của nghề luật.

Kỳ thứ mười hai: "LUẬT SƯ PHẠM HỒNG HẢI VÀ CON ĐƯỜNG TỚI NGÀY VINH QUANG"

Nhắc tới những luật sư nổi tiếng trong giại đoạn hiện nay thì không ai trong giới luật sư chúng ta lại không biết đến Luật sư Phạm Hồng Hải, người từng gây tiếng vang vì đã bào chữa thành công cho các bị cáo trong vụ kỳ án nổi tiếng “Vụ án vườn điều” và nhiều vụ án “đình đám” khác của Việt Nam. Ông cũng là luật sư duy nhất của Việt Nam được phong hàm Phó giáo sư, là thành viên Hội đồng lâm thời luật sư toàn quốc, nguyên Chủ nhiệm Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, Trưởng văn phòng Luật sư Phạm Hồng Hải và cộng sự.



Phó GS - TS - Luật sư Phạm Hồng Hải

Năm 2008, ông vinh dự được VTV chọn là gương mặt của “Người đương thời” và được đông đảo người dân Việt Nam biết đến. Với tất cả những thành công và sự nổi tiếng như vậy, có thể nói ông Phạm Hồng Hải là một hình mẫu mà bất cứ luật sư hay những người đang có ý định theo đuổi nghề này hướng tới. Tuy nhiên, chắc cũng có không nhiều người biết được rằng, để có được vinh quang và danh tiếng như ngày hôm nay thì Phạm Hồng Hải cũng đã phải trải qua một chặng đường đầy chông gai vất vả, nhiều khi là nghiệt ngã. Do vậy, để hiều hơn về con người ông - một luật sư tiêu biểu đương đại và có thêm vào niềm tin vào tương lai của nghề luật sư thì chúng ta hãy cùng nhau nhìn lại chặng đường mà ông đã trải qua.

Từ một thanh niên sống có lý tưởng trở thành một chiến sỹ quả cảm.

Phạm Hồng Hải sinh ra và lớn lên trong một gia đình có tới 7 anh chị em, ông có một tuổi thơ lang bạt, lúc chỗ này lúc chỗ khác theo cơ quan bố trong giai đoạn chiến tranh chống phá của Đế quốc Mỹ. Thấu hiểu được những khó khăn, khổ cực của Đất nước khi bị xâm lược. Điều đó đã vun đắp cho ông lý tưởng, khao khát chiến đấu giành độc lập tự do cho Tổ quốc. Mục tiêu, lý tưởng này của ông cũng chính là mục tiêu mục tiêu, lý tưởng sống của cả một thế hệ thanh niên thời bấy giờ.

Thi tốt nghiệp phổ thông xong (chưa đầy 16 tuổi) ở quê, chưa kịp nhận bằng, chàng thanh niên Phạm Hồng Hải - một thanh niên đầy ước mơ và hoài bão đã viết quyết tâm thư xung phong vào bộ đội để chiến đấu cho lý tưởng độc lập tự do của Tổ quốc. Hành động đó của Phạm Hồng Hải cũng là hình ảnh tiêu biểu cho lớp lớp thanh niên Việt Nam. “Khi Tổ quốc kêu lên tiếng sầu” thì những thanh niên trai tráng lại gác bút nghiên, cầm súng lên đường làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc thân yêu. Đó mãi là những một hình ảnh đẹp còn đọng lại trong lòng biết bao thế hệ người Việt Nam.

Sau khi vào bộ đội, Phạm Hồng Hải được phân công về Đoàn tàu không số thuộc Bộ Tư lệnh Hải Quân và phục vụ tại đơn vị từ năm 1969 đến năm 1974. Đây là một đoàn tàu cảm tử chuyên trở vũ khí vào Nam. Chiến tranh khi ấy đang ở vào thời kỳ ác liệt nhất. Nhổ neo rồi không bao giờ trở về, mất xác trên biển khơi là chuyện bình thường của các con tàu không số. Phạm Hồng Hải đã hai lần cùng đồng  đội chở vũ khí vào Nam và con tàu của ông đã may mắn trở về một cách an toàn.

Trên chặng đường dài để trở thành một luật sư danh tiếng như ngày hôm nay thì có lẽ ngày 16/4/1972 là một cột mốc đáng nhớ nhất trong cuộc đời Phạm Hồng Hải. Chuyện là, vào buổi chiều muộn ngày 16/4/1972, khi con tàu của ông đang nằm trên sông Cấm (thuộc địa phận Hải Phòng) ăn hàng để chuẩn vị cho một chuyến đi vào Nam thì bị máy bay Mỹ đánh bom trúng. Trong trận chiến đấu đó, tất cả các cán bộ chiến sỹ trên con tàu đều hy sinh và mất xác, chỉ còn ba người: Ông và chiến sỹ ra đang phục vụ trên bong. Còn hai đồng đội khác là hai chiến sỹ cơ điện phục vụ dưới hầm ngầm con tàu. Như vậy, trọng trận chiến đấu đó, ông là người duy nhất trên bong sống sót. Với thương tích cánh tay trái bị dập nát, tai trái bị sức ép bom B52 hầu như mất hết thính lực, rất nhiều vết thương trên phần mềm vùng ngực và bụng nên ông phải điều trị trong Quân y viện Quân chủng Hải Quân trong vòng 1 năm trời, với 3 lần nên bàn mổ. Trải qua 3 lần phẫu thuật, ông đã mất đi nhiều phần sức khỏe, là thương binh hạng 4/4 và  không thể trở lại chiến trường được nữa.

Như người vừa trở về từ cõi chết, những thương tích trầm trọng đã lấy đi của ông nhiều phần sức khỏe nhưng đã đem lại cho ông những bài học làm người quý giá. Ông hiểu rằng, cuộc đời đã đem món quà tặng vô giá là sự sống đến cho ông và tự thân ông, ông phải sống sao cho có ích nhất, ông quyết tâm học ngay trên giường bệnh.

Nghị lực phi thường trên con đường học tập của một thương binh và trở thành một người thành công trên con đường học vấn

Ngay từ những ngày nằm trong Quân y viện, ông đã xác định cần phải trở lại với công việc học hành. Vì thế trong thời gian này, ông đã sưu tầm sách vở để ôn luyện chờ ngày thi Đại học. Ngày ấy, trong Quân y viện Hải quân, đã có nhiều người ngạc nhiên khi thấy một hình ảnh một thương binh băng bó trắng toát khắp người nhưng vẫn miệt mài đọc sách, miệng lẩm nhẩm các công thức toán học. Thậm chí có người tưởng ông bị tâm thần do sức ép của bom.

Xuất viện năm 1973, thì tháng 9 năm đó, ông thi đại học và đậu ngay với số điểm cao. Không cần phần điểm ưu tiên dành cho thương binh, ông đàng hoàng bước vào giảng đường đại học. Và, không chỉ có vậy, do điểm thi cao, ông còn được Nhà nước cử đi học ở nước ngoài.

Sang Liên Xô (cũ), ông được vào học luật tại Đại học Luật Tasken. Dù là thương binh mới ở chiến trường ra, sức khỏe kém nhưng kết quả học tập của ông rất cao. Ông là một trong số những sinh viên hiếm hoi được Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa XHCN Việt Nam tại Liên Xô (cũ) tặng bằng khen vì thành tích xuất sắc trong học tập.

Tốt nghiệp Đại học Luật Tashkent là thủ đô của Uzbekistan (Liên Xô) với tấm bằng đỏ, ông về nước. Sáu năm học tập ở nước ngoài, ông đã thu nạp được nhiều kiến thức ở nhiều lĩnh vực thuộc về luật pháp.

Nhưng, câu chuyện về cái chết hụt năm xưa vẫn đeo bám ông, giống như một nỗi ám ảnh. Đã từng chạm vào cái chết nhưng lại được cuộc đời ban cho ân huệ được sống, hơn bao giờ hết ông hiểu được một cách tận cùng cái quý giá của cuộc sống làm người. Vì thế mà trong rất nhiều kiến thức tích lũy được, ông luôn luôn quan tâm đến những gì thuộc về quyền con người, ngay cả trong những hoàn cảnh ngặt nghèo nhất. Vì vậy, sau khi ở Đại học Luật Tasken trở về Việt Nam làm cán bộ nghiên cứu tại Viện Nhà nước và Pháp luật, ông quan tâm nhiều đến quyền của người bị buộc tội, trong đó có quyền được bào chữa. Theo ông, trong vòng tố tụng, có nhiều người phạm tội. Có người pham tội do cố ý nhưng cũng có không ít người phạm tội do vô ý, do thiếu hiểu biết về pháp luật và có cả những người bị hàm oan. Những đối tượng đó cần phải có người bào chữa. Bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho họ, góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan chính là bảo vệ pháp chế XHCN. Còn kể cả trong trường hợp, tội lỗi của họ đã rõ ràng thì khi luật sư có tình thương với họ cũng là một động lực để họ hoàn lương.

Hơn 10 năm làm cán bộ nghiên cứu ở Viện Nhà nước và pháp luật, ông đã đeo đuổi đề tài “Bảo đảm quyền bào chữa cho người bị buộc tội”. Để có tư liệu thực tế phục vụ việc nghiên cứu khoa học, ông đã tham gia làm luật sư kiêm nhiệm, đầu tiên ở Đoàn Luật sư Hải Phòng rồi sau đó là Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội. Năm 1991, ông quay lại Nga tiếp tục nghiên cứu và bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Luật học với đề tài này tại Viện Hàn lâm Khoa học Liên bang Nga năm 1993.

Tám năm sau, năm 2001, với những đóng góp trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học, ông được Hội đồng học hàm Nhà nước phong hàm Phó Giáo sư Luật học. Và, các đề tài khoa học xung quanh cơ chế minh oan trong tố tụng vẫn là niềm say mê của ông. Ông vẫn vừa giảng dạy, vừa nghiên cứu, vừa tham gia bào chữa ở phiên toàn với tư cách là luật sư kiêm nhiệm.

Như một cái duyên với nghề luật sư, ngay từ khi Phạm Hồng Hải hành nghề luật sư như một nghề tay trái thì ông đã tham gia trong các phiên tòa nổi đình đám nhất để bào chữa cho các nhân vật cựu quan chức phạm tội, trong các vụ án từng là tâm điểm chú ý của dư luận như vụ Năm cam, vụ Mường tè, vụ Lã Thị Kim Oanh… Ông đã từng là luật sư của bị cáo Trần Hùng Sơn (trong vụ án Mường Tè), của bị cáo Lương Quốc Dũng (nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban thể dục thể thao)…



Hình ảnh Luật sư Phạm Hồng Hải tranh tụng trước tòa

Rõ ràng, trong số hàng nghìn luật sư thì ông là một trong số những người hiếm hoi hay được bào chữa cho các nhân vật có thân phận đặc biệt mà ta cứ hay gọi là VIP và tất nhiên là trong  những vụ án không đơn giản.

Nhưng việc tham gia bào chữa trong trong các vụ án lớn mà ông thường được lên truyền hình và làm ông trở lên nổi tiếng hơn nhưng khi ấy với ông vẫn chỉ là để lấy thực tế phục vụ cho nghiên cứu khoa học chứ không bao giờ nhắm tới cái đích để trở thành luật sư chuyên nghiệp.

Sự lựa chọn khó khăn và một quyết định dũng cảm

Cứ tưởng rồi cuộc đời Phạm Hồng Hải sẽ mãi gắn bó với công việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Nhưng hình như là một định mệnh, cuộc đời đã phải buộc ông phải lựa chọn một trong hai ngã rẽ. Số là, Pháp lệnh luật sư 2001 quy định chỉ có những người không phải là cán bộ, công chức Nhà nước mới được gia nhập đoàn luật sư. Đối với những người đang kiêm nhiệm (tức là vừa làm công chức vừa làm luật sư) như ông, Bộ Tư pháp sẽ cho gia hạn thêm 3 năm để quyết định sẽ bỏ công chức sang làm luật sư hay thôi luật sư để làm công chức.

Quy định đó vô tình trở thành bước ngoặt trong cuộc đời ông khi buộc ông phải đứng trước lựa chọn nghiệt ngã giữa hai công việc mà ông cùng yêu thích. Đó là còn chưa kể, lúc ấy ông không chỉ có danh mà còn còn có ghế (giữ chức vụ Trưởng phòng Nghiên cứu tư pháp hình sự của Viện Nhà nước và Pháp luật).

Nhưng rồi, bị đặt vào tình thế ngặt nghèo ấy, ông mới ngộ ra chính mình. Rằng, ông yêu nghề luật sư biết bao và xưa nay ông hành nghề bằng chính tình yêu vô biên ấy chứ không đơn thuần làm thực tế để phục vụ cho việc nghiên cứu khoa học. Như một định mệnh của cuộc đời, ông quyết định về hưu để làm luật sư chuyên nghiệp. Nhưng do sợ bị vợ ngăn cản, ông đã phải giấu vợ viết đơn xin nghỉ hưu. Và kết quả là sự lựa chọn nghiệt ngã ấy là sự ra đời của Văn phòng Luật sư  được nhiều người biết tới bây giờ là Văn phòng Luật sư Phạm Hồng Hải và cộng sự.

Những bài học nghề nghiệp đúc kết từ thực tiễn hành nghề

Vụ án vườn điều, nếu đối với lịch sử tư pháp Việt Nam đáng được ghi dấu như một bài học cho các cơ quan tố tụng thì đối với Luật sư Phạm Hồng Hải lại là một biến cố. Là luật sư trong vụ án vườn điều, ông từng bị tố cáo phạm tội. Nhưng với niềm tin vào công lý, ông đã không chùn bước trên con đường đi tìm sự thật khách quan, để rồi sau này, chính vụ án này đã mang lại cho ông nhiều bài học bổ ích khi tất cả những bị cáo mà ông bào chữa đều được tuyên vô tội.

Niềm tin vào công lý

Vào tháng 5 năm 2004, Văn phòng Luật sư Phạm Hồng Hải và cộng sự có một người khách đặc biệt. Đó là ông Trần Mỹ, một người dân sống ở xã Tân Minh, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận, một vùng cách xa Hà Nội hơn một nghìn cây số. Tuy nhiên vào thời điểm ấy, địa danh xa lắc xa lơ này, đối với phần đông những người hành nghề tư pháp đã trở nên quen thuộc bởi đây chính là nơi xảy ra “Vụ ván vườn điều”, một vụ án đang gây xôn xao dư luận lúc bấy giờ.
Gọi là “Vụ án vườn điều” bởi vì địa điểm phát hiện ra xác chết của bà Dương Thị Mỹ đêm 18 rạng ngày 19/5/1993 là một vườn điều ở xã Tân Minh, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.

Bốn tháng sau khi các công việc điều tra không đạt được kết quả, vào tháng 9/1993, Công an tỉnh Bình Thuận ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án.
Gần 5 năm sau, từ lời khai của Huỳnh Văn Nén, một đối tượng bị bắt tạm giam trong một vụ án khác, Công an tỉnh Bình Thuận đã phục hồi điều tra “Vụ án vườn điều”. Sau đó, 10 người thuộc 3 thế hệ trong gia đình bà Nguyễn Thị Lâm (tất cả đều là dân địa phương) đã bị khởi tố, trong đó có 8 người đã bị bắt tạm giam.

Các cơ quan tư pháp của tỉnh kết luận: bà Mỹ có quan hệ tình ái bất chính với anh Trần Văn Sáng, con rể bà Lâm. Vì thế gia đình bà Lâm đã tổ chức đánh ghen tập thể tại vườn điều nhà Hai Hoàng dẫn đến cái chết của bà Mỹ.

Trở lại câu chuyện của ông Trần Mỹ. Chỉ là một người dân bình thường ở địa phương, không có quan hệ huyết thống với các bị cáo trong vụ án nhưng ông Trần Mỹ phải tự bỏ tiền lặn lội ra Hà Nội gặp luật sư vì theo dõi vụ án, ông thấy có nhiều điểm bất hợp lý chưa được làm sáng tỏ.

Lúc này, vụ án đã trải qua hai lần xét xử. Tòa sơ thẩm của Tòa án nhân dân (TAND) tỉnh Bình Thuận tuyên các bị cáo phạm tội và bị cáo phải chịu mức án cao nhất là 10 năm tù. Nhưng bản án này đã bị Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Tp. Hồ Chí Minh tuyên hủy để điều tra lại.

Trong chuyến ra Hà Nội lần này, cùng với những tài liệu về vụ án đã thu thập được, ông Trần Mỹ còn mang theo lá thư của ông Nguyễn Thận, lúc bấy giờ là Chủ tịch xã Tân Minh. Trong bức thư gửi đích danh luật sư Phạm Hồng Hải, ông Thận khẳng định, tất cả những người bị bắt giữ trong “Vụ án vườn điều” đều bị oan và tha thiết đề nghị luật sư Phạm Hồng Hải bào chữa giúp họ.

Tuy nhiên, cả ông Mỹ và ông Thận đều nói rõ rằng, hoàn cảnh của gia đình các bị cáo rất éo le. Họ hầu như không còn tài sản gì kể từ khi gia đình bị lâm vào vòng tố tụng. Vì thế, họ không có tiền trả công cho các luật sư. Nếu các luật sư đồng ý bào chữa miễn phí thì mới dám nhờ cậy, bằng không thì đành thôi.

Ông Trần Mỹ tỏ ra rất sốt ruột nhưng luật sư Phạm Hồng Hải không dám nhận lời ngay. Ông chần chừ không phải vì chuyện miễn phí hay không miễn phí mà vì ông sẽ chỉ bào chữa nếu các bị cáo có dấu hiệu bị hàm oan. Vì thế, ông nói với ông Trần Mỹ rằng, ông cần phải nghiên cứu hồ sơ vài ba ngày rồi mới có câu trả lời.

Mặc dù thời gian nghiên cứu hồ sơ rất ngắn ngủi nhưng Luật sư Phạm Hồng Hải đã phát hiện ra một số điểm bất bình thường trong vụ án này. Trong đó, ông đặc biệt chú ý đến hình ảnh cuối cùng của bị cáo Trần Thị Nhung, một trong mười người thuộc gia đình bà Nguyễn Thị Lâm đã bị khởi tố và bắt giam, trong một đoạn video.

Chị Nhung do bị bệnh ung thư tử cung nên đã được tại ngoại để vào Bệnh viện Ung bướu Tp. Hồ Chí Minh chữa bệnh. Song, do bệnh tình quá nặng, chị Nhung đã chết trước khi phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất được mở. Thân hình tiều tụy, những giọt nước mắt cay đắng và những tiếng kêu oan xé lòng của chị Nhung trong những ngày cuối cùng trước khi chết tại bệnh viện đã khiến Luật sư Phạm Hồng Hải không cầm được lòng. Ông nhận lời bào chữa cho tất cả các bị cáo trong “Vụ án vườn điều”.

Bào chữa cùng ông còn có Luật sư Trần Vũ Hải và Luật sư Bùi Đức Trường cũng ở Hà Nội nhưng tất cả các luật sư đều không đòi hỏi bất kỳ một chi phí nào từ phía gia đình bị cáo. Toàn bộ chi phí đi lại, ăn ở từ Hà Nội vào Bình Thuận, chi phí hồ sơ giấy tờ đều do các luật sư tự lo liệu.

Luật sư Phạm Hồng Hải nhớ lại, nhóm luật sư nghiên cứu hồ sơ được khoảng 3 tháng. Đây là thời làm việc gian cực kỳ căng thẳng của ông và các đồng nghiệp. Cuối tháng 7 đầu tháng 8/2004, phiên tòa sơ thẩm lần thứ hai được mở tại TAND tỉnh Bình Thuận. Cuộc tranh luận giữa bên gỡ tội và bên buộc tội tại phiên tòa diễn ra khá gay gắt. Tuy nhiên, vẫn như lần xét xử sơ thẩm thứ nhất - bản án sơ thẩm lần thứ hai của TAND tỉnh Bình Thuận vẫn tuyên: các bị cáo có tội, không có ai bị hàm oan. Chỉ có duy nhất một điều khác, luật sư của các bị cáo, trong đó có Luật sư Phạm Hồng Hải bị tố cáo có hành vi phạm tội “Vu khống” và “Làm nhục người khác”. Bằng chứng của tội phạm là những phát biểu quá lời của các luật sư tại tòa. Lá đơn tố cáo được gửi đến Ban Nội chính Trung ương, Ủy ban pháp luật Quốc hội, Bộ Tư pháp… và nhiều cơ quan nội chính khác.



Luật sư Phạm Hồng Hải trong “Vụ án vườn điều"

Tuy nhiên, chính niềm tin vào công lý, lẽ phải đã không làm ông thất vọng và chùn bước trước những khó khăn, thách thức. Sau phiên tòa sơ thẩm lần thứ hai, luật sư Phạm Hồng Hải và các luật sư cùng nhóm lại tiếp tục nhóm lại tiếp tục bỏ thời gian, công sức để đeo đuổi lên tòa phúc thẩm TAND tối cao. Bảy tháng sau, Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Tp. Hồ Chí Minh một lần nữa tuyên hủy toàn bộ bản án sơ thẩm lần hai của TAND tỉnh Bình Thuận; kiến nghị Bộ Công an trực tiếp thụ lý điều tra lại toàn diện vụ án.

Đối với luật sư Phạm Hồng Hải, lúc này mặc dù các bị cáo vẫn chưa được tuyên trả tự do nhưng ông thấy rất vui. Sau này, ông kể lại rằng, ông đã trải qua một cảm giác kỳ lạ sau phiên tòa ấy. Ông bỗng cảm thấy lòng mình thanh thản và tiếp tục hy vọng bởi ông tin Cơ quan điều tra của Bộ Công an sẽ làm sáng tỏ sự thật khách quan.

Kết quả điều tra lại của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an kết luận, chưa đủ cơ sở để buộc tội các bị can về tội giết người. Theo đó, tất cả các thành viên trong gia đình bà Nguyễn Thị Lâm đã được đình chỉ đều tra. Sau đó, gia đình bà Lâm nhận được số tiền bồi thường oan sai hơn một tỷ đồng từ các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Bình Thuận.

Bài học trong cay đắng

Vụ án khép lại, trách nhiệm của các luật sư coi như đã kết thúc trong vinh quang. Nhưng Luật sư Phạm Hồng Hải nói rằng, đối với ông, sự bình yên trong cuộc đời những người từng vướng vào vòng lao lý mới là niềm vui lớn  nhất. Vì thế, sau khi tất cả các bị cáo được trả tự do, ông vẫn đau đáu mong mỏi có một ngày được trở lại Bình Thuận để gặp lại họ. Song, do công việc quá bận rộn nên phải một năm sau đó, Luật sư Phạm Hồng Hải và các cộng sự mới có dịp quay trở lại xã Tân Minh.



Luật sư Hồng Hải và ông Nguyễn Thận (chủ tịch xã Tân Minh thời bấy giờ).

Cuộc sống của các cựu bị cáo trong “Vụ án vườn điều” dần ổn định, họ dùng số tiền bồi thường để mở cửa hàng, mua ôtô chở khách. Ông vui mừng đến ngạc nhiên vì sức khỏe của bà Lâm, người lớn tuổi nhất trong gia đình phục hồi nhanh. Mới một năm trước gặp bà tại phiên tòa với mái đầu bạc trắng thì nay thấy tóc ít nhiều đã xanh trở lại. Gặp luật sư Phạm Hồng Hải, bà đã ôm lấy ông trong nức nở…

Trong cuộc đời làm luật sư của mình, “Vụ án vườn điều” không phải là vụ án duy nhất thắng lợi; lời cảm ơn của bà Lâm cũng không phải là lời cảm ơn duy nhất nhưng đối với Luật sư Phạm Hồng Hải, những cuộc hạnh ngộ ấy bao giờ cũng làm ông rơi nước mắt. Giống như đã có lần ông rơi nước mắt khi đúng chiều 30 tết, một cựu bị cáo từng được ông bào chữa lặn lội từ quê, vượt một chặng đường dài 200 cây số, lấm lem bùn đất tìm đến nhà ông biếu ông một con gà và mấy trái bưởi quê chín mọng.

Nhưng cuộc đời của một luật sư, dù có nổi tiếng như ông thì không phải bao giờ cũng toàn có những niềm vui như thế. Sự thành đạt của ông hôm nay sẽ khiến cho nhiều người khó tin rằng, ông đã bị thất bại ngay từ vụ án đầu tiên trong cuộc đời làm luật sư của mình.

Khi ấy ông mới ở Liên Xô về, thừa nhiệt huyết nhưng thiếu kinh nghiệm nghề nghiệp. Bị cáo mà ông bào chữa là một cán bộ quân đội, bị truy tố về tội buôn lậu. Ông cũng mất nhiều tháng ròng nghiên cứu, thu thập tài liệu hồ sơ và trong tay ông có đủ bằng chứng để chứng minh rằng bị cáo không phạm tội. Tại phiên tòa, ông nói rất nhiều, rất mạnh, dùng đủ tất cả mọi lý lẽ đao to búa lớn. Nhưng rồi cuối cùng, nước lã ra sông, tòa vẫn tuyên bị cáo có tội. Ông buồn lắm, mất ăn mất ngủ mấy ngày liền. Về nhà, vợ gọi cũng chả buồn thưa, đến nỗi vợ ông cứ tưởng ông bị … đuổi việc.

Thất bại ngay từ vụ án đầu tiên, ông ngộ ra rằng, luật sư là một nghề khó khăn và cực nhọc chứ không lung linh và nhiều lãng mạn như hình ảnh của những vị luật sư trong các cuốn tiểu thuyết trinh thám hay trong các bộ phim điều tra hình sự.

Sau này, ông thường mang các thất bại của chính bản thân mình ra để làm bài học cho các học trò mà bài học đầu tiên bao giờ cũng là bài học về sự khẳng định vị thế của luật sư trong tố tụng hình sự. Cho dù vị thế của luật sư đã được thể chế hóa bằng các văn bản pháp luật với những quy định thông thoáng, dân chủ, tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư hành nghề, nhưng nếu bản thân các luật sư không đủ kiến thức, không đủ trình độ thì họ không bao giờ có được vị thế xứng đáng. Người luật sư đứng trước tòa không thể nói bừa nói ẩu theo kiểu “nói lấy được” mà lời bào chữa của luật sư bao giờ cũng phải dựa trên những kiến thức cơ bản về khoa học pháp lý.

Nhưng cho dù lời bào chữa ấy có rất tuyệt vời về mặt kiến thức nhưng người luật sư không có phương pháp, kỹ năng giải trình thuyết phục, thì không những sẽ không thành công mà còn gây thêm không khí căng thẳng không cần thiết cho phiên xét xử. Vì thế, bài học thứ hai ông tự rút ra cho mình, đó là bài học về kỹ năng hành nghề của luật sư. Cái khó của nghề luật sư là dám nói ra sự thật nhưng phương pháp, kỹ năng giải trình thuyết phục sao cho sự thật ấy được chấp nhận còn khó hơn nhiều. Thất bại của ông trong vụ án đầu tiên chính là do ông chưa có được kỹ năng thuyết phục.

Bài học cuối cùng và cũng là bài học quan trọng nhất, theo quan niệm của ông, đó chính là bài học về đạo đức nghề nghiệp. Người luật sư, dù kiến thức có giỏi đến mấy, kỹ năng thuyết phục có hoàn hảo tới đâu nhưng nếu không có đạo đức nghề nghiệp thì không những chẳng giúp ích gì mà còn làm phương hại đến xã hội. Đã đầy rẫy những bài học về sự sa ngã của những luật sư chạy án, luật sư lừa đảo mà vụ án luật sư Lê Bảo Quốc ở Tp. Hồ Chí Minh là một điển hình. Với ông, đạo đức luật sư chính là một điều kiện cần thiết và quan trọng để nâng cao uy tín và vị thế của luật sư trong xã hội. Trong mọi vụ án, trong mọi trường hợp, trong mọi mối quan hệ, luật sư phải tuân thủ chặt chẽ đạo đức nghề nghiệp. Đó là một điều quý giá mà mỗi luật sư cần phải giữ gìn trong suốt quá trình hành nghề. Làm nghề luật sư, cho dù có nổi danh như ông đi chăng nữa, nhưng lấy đó làm phương tiện kiếm tiền thì đó là một điều nguy hiểm. Với ông, luật như một thứ “đạo” thờ.

Một số đúc kết của Phạm Hồng Hải về nghề luật sư:

Ở Việt Nam hiện nay, nghề luật sư hiện vẫn còn rất mới trẻ. Những năm gần đây, đặc biệt sau khi có các nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến việc nâng cao vị trí, vai trò của giới luật sư trong đời sống xã hội. Trong công cuộc đổi mới và xu thế hội nhập, vai trò của người luật sư ngày càng được khẳng định, có nhiều cơ hội cho giới luật sư thể hiện mình và đóng góp cho sự nghiệp chung. Như vậy có thể nói môi trường xã hội và môi trường pháp lý cho hoạt động của luật sư rất thuận lợi. Tuy nhiên, từng luật sư muốn khẳng định mình phải luôn trau dồi kiến thức pháp luật, kỹ năng hành nghề và đào đức nghề nghiệp của mình. Để trở thành một luật sư giỏi cần phải có những yếu tố sau đây:

- Một: Có lòng say mê nghề nghiệp

- Hai: Có tri thức pháp luật bao gồm sự hiểu biết pháp luật và khả năng áp dụng chúng trong thực tiễn;

- Ba: Có bản lĩnh vững vàng (bởi luật sư là một nghề khó đồng thời cũng là một nghề nguy hiểm)

- Bốn: Có đạo đức nghề nghiệp (người luật sư phải có tấm lòng thương người, lòng vị tha và nhân đạo)

Nhìn lại chặng đường mà Luật sư Phạm Hồng Hải đã trải qua để đạt được những thành công như ngày hôm nay thì có thể thấy đây là một chặng đường đầy chông gai vất vả. Con đường mà Phạm Hồng Hải đã và đang đi đã minh chứng một điều rằng: Không có một thành công nào đến với ta một cách dễ dàng cả. Để có được thành công thì ngoài sự lỗ lực của bản thân, kiến thức, bản lĩnh vững vàng thì cũng cần có sự may mắn. Tuy nhiên đối với nghề luật sư thì có một điều kiện đặc biệt hơn nữa đó là cần phải có đạo đức nghề nghiệp (người luật sư phải có tấm lòng thương người, lòng vị tha và nhân đạo) như phạm Hồng Hải đã đúc kết.

Hiểu thêm về con người và chặng đường mà Phạm Hồng Hải đã trải qua để có được những vinh quang như ngày hôm nay sẽ giúp cho những luật sư trẻ có thêm niềm tin vào nghề nghiệp mình đang theo đuổi. Dù rằng con đường phía trước mà chúng ta phải trải qua để có thể đạt được những thành công (với mục tiêu cao hơn là góp phần nâng cao vị trí của giới luật sư trong xã hội Việt Nam nói riêng hay có những đóng góp ngày một lớn hơn nữa cho quá trình hội nhập và phát triển của đất nước nói chung trong thời kỳ đổi mới) còn nhiều gian nan, vất vả. Tuy nhiên với niềm tin vào tương lai nghề nghiệp và với quyết tâm của từng cá nhân luật sư thì điều đó sẽ không có gì là xa vời. Lời cuối, xin được mượn câu nói của những người chiến sỹ Cộng sản để có thể nói thay con đường mà Luật sư Phạm Hồng Hải đã và đang đi cũng như củng cố thêm niềm tin cho những luật sư trẻ, những người đang có ý định theo đuổi cái nghề danh giá nhưng cũng lắm gian nan này rằng: “ Con đường gai góc nở nhiều hoa thắm”.  

Các bài viết thuộc tác quyền của Văn phòng luật sư Trương Anh Tú, mọi hình thức sao chép phải được sự chấp thuận của Văn phòng luật sư Trương Anh Tú, mọi hình thức sao chép trái phép là vi phạm pháp luật và bị xử lý theo quy định về quyền tác giả.

Hết kỳ 12.

 ------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

 

Trăm năm nghề luật & những luật sư nổi tiếng/ Kỳ cuối LUẬT SƯ ĐƯƠNG ĐẠI TRẦN ĐÌNH TRIỂN

Nói về pháp luật có một triết gia nổi tiếng người Hy Lạp đã nói: “Pháp luật nằm ngoài sự đam mê”. Do vậy, trở thành một luật sư giỏi thì chỉ có sự đam mê không thôi là chưa đủ. Một con ong chăm chỉ cũng không bao giờ trở thành một luật sư giỏi, một luật sư giỏi cần phải có một tố chất đặc biệt.

Trở thành một luật sư giỏi đã khó nhưng để trở thành một luật sư danh tiếng và được xã hội biết đến rộng rãi thì lại là một điều khó khăn hơn gấp bội. Một luật sư danh tiếng phải là một luật sư:

+ Thứ nhất: là một luật sư giỏi về chuyên môn;

+ Thứ hai: là một luật sư có nhiều cống hiến cho xã hội trong lĩnh vực hành nghề và được xã hội biết đến rộng rãi;

+ Thứ ba: là một luật sư có sự hy sinh vì nghề nghiệp (sự dấn thân), kiên định với nghề nghiệp mà mình đã lựa chọn.



  Luật sư Trần Đình Triển

Trong giới luật sư đương đại ở Việt Nam hiện nay thì để bình chọn ra một luật sư tiêu biểu sẽ không khó nhưng chắc chắn sẽ có nhiều ý kiến trái chiều nhau khi đưa ra bình chọn này. Tuy nhiên, bài viết này không phải là một đánh giá của một cuộc bình chọn nào cả mà nó chỉ nêu lên ý kiến chủ quan của người viết mà thôi. Vì vậy, nếu để bình chọn ra một luật sư đương đại theo đáp ứng được những tiêu chí nêu trên thì Tiến sĩ, Luật sư Trần Đình Triển xứng đáng là một luật sư như vậy. Nhằm tìm hiểu thông tin xây dựng bài viết này, chúng tôi đánh tên ông trên công cụ tìm kiếm google, và thật bất ngờ, chỉ trong 0,23 giây đã cho ra 3.000.000 kết quả tìm kiếm, kết quả này nhiều hơn hầu hết các ngôi sao màn bạc hay các bộ trưởng nào.

Xuất thân là một cán bộ nhiều năm công tác trong ngành Công an, Trần Đình Triển chính thức hành nghề luật sư từ năm 2004. Hiện nay, ông cũng đang là Trưởng văn phòng của Văn phòng Luật sư Vì Dân - một văn phòng luật sư nổi tiếng tại Hà Nội với nhiều hoạt động nổi bật như: tư vấn miễn phí, tham gia bào chữa miễn phí cho những người dân có hoàn cảnh khó khăn, những gia đình chính sách, những người có nhiều đóng góp cho xã hội, đấu tranh chống những việc làm, hành động sai trái có dấu hiệu tham ô, tham nhũng ...

Những vụ án điển hình mà luật sư Trần Đình Triển đã tham gia thu hút được sự quan tâm lớn của dư luận xã hội có thể kể đến như: vụ án Lã Thị Kim Oanh và đồng phạm, trong vụ án này Trần Đình Triển tham gia bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quang Hà nguyên thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, bào chữa miễn phí cho hai bị cáo nữ là Thúy và Hạnh trong vụ án hiệu trưởng mua dâm - Sầm Đức Xương (Hà Giang), gần đây nhất là bào chữa cho bị cáo Cù Huy Hà Vũ trong vụ án Cù Huy Hà Vũ… Và hầu như tất cả các vụ án ông tham gia đều để lại dấu ấn, được báo chí quan tâm và đưa tin.

Qua các vụ án mà Trần Đình Triển tham gia hay những bài viết, bài phát biểu của mình trên báo chí đều thể hiện sự nắm bắt pháp luật một cách tường tận của Luật sư Trần Đình Triển. Những lập luận sắc sảo và viện dẫn pháp luật một cách chính xác đã giúp ông thành công trong trong nhiều vụ án phức tạp và tạo dựng được tên tuổi trong giới luật sư.

Nói tới Trần Đình Triển cũng là nói tới một con người thẳng thắn và một luật sư có cá tính mạnh mẽ. Ông không ngại đấu tranh với những tiêu cực, kiến nghị những cá nhân có những hành động hay việc làm sai trái. Những phát biểu khẳng khái của ông nhiều khi động chạm đến những nhân vật nhạy cảm trong các cơ quan nhà nước nhưng với với am hiểu pháp luật, một cái tâm trong sáng, một người thấm nhuần đạo đức nghề nghiệp thì ông không bao giờ ngại đấu tranh.

Sự đấu tranh thẳng thắn của ông nhiều khi đem đến sự nguy hiểm cho tính mạng của chính bản thân mình. Minh chứng rõ nhất cho điều này là vừa qua, vào ngày 08/08/2011 ông đã bị một nhóm người tự xưng là thương binh tấn công tại Văn phòng luật sư Vì Dân. Ông cho biết đây là lần thứ hai ông bị nhóm người trên tấn công và đe dọa, đòi ông phải bỏ qua vụ án chống tham nhũng đối với bà Đặng Thị Bích Hòa là Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc cổ phần chuyển phát nhanh Bưu điện, mà ông đang làm luật sư tư vấn miễn phí. Tuy nhiên, khi được một phóng viên hỏi ý kiến rằng ông có chút e ngại nào đối với những vụ án đang đảm trách không, thì ông có trả lời: “Cho dù có xảy ra như thế, xảy ra nữa thì công việc tôi tôi vẫn cứ làm. Tôi vẫn có trách nhiệm để bảo vệ sự trong sáng của pháp luật, bảo vệ nhân dân, bảo vệ đất nước”. Điều đó càng chứng tỏ sự dũng cảm, hết mình đấu tranh cho sự thật, cho lẽ phải mà không ngần ngại phải đối đầu với bất kỳ thế lực nào của ông.



Mạnh mẽ và đầy cá tính

Sống trong nhà nước pháp quyền thì pháp luật là tối thượng, nghĩa vụ của mỗi một công dân là “Sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật” nhưng với người luật sư thì còn có một nghĩa vụ cao cả hơn đó là luật sư với vai trò của mình phải cùng với các cơ quan thực thi pháp luật đấu tranh để bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Góp phần chung vào sự nghiệp xây dựng một xã hội công bằng dân chủ văn mình như mục tiêu của Đảng và Nhà nước đã đặt ra. Những hoạt động nghề nghiệp của Luật sư Trần Đình Triển được đông đảo người dân biết tới cũng đã phần nào góp phần nâng cao vị thế của giới luật sư trong xã hội.

Ở một đất nước mà kinh tế còn kém phát triển như Việt Nam thì sự hiểu biết về pháp luật của người dân cũng còn rất hạn chế, vì vậy để người dân có thể nắm được quyền và nghĩa vụ của mình thì ngoài việc tuyên truyền pháp luật của các cơ quan cơ quan nhà nước thì sự tham gia của luật sư, những ý kiến của luật sư như Trần Đình Triển hay Văn phòng luật sư Vì Dân sẽ thúc đẩy tốt hơn việc phổ biến pháp luật tới cho người dân. Ngay từ đặc thù của hoạt động luật sư là người góp phần bảo vệ công lý, giúp cơ quan tố tụng tìm ra sự thật khách quan trong các vụ án thì việc tham gia của luật sư là vô cùng cần thiết. Tuy nhiên, sự tham gia tố tụng của luật sư trong giai đoạn hiện nay không phải bao giờ cũng thuận lợi mà vẫn còn có những điểm hạn chế trong khi luật sư tác nghiệp. Nhiều khi các quy định của pháp luật là rất rõ ràng nhưng đôi lúc, đôi nơi, đôi chỗ trong các vụ án vẫn đó những vi phạm tố tụng nhằm làm giảm vai trò của luật sư. Từ quy định của pháp luật đến thực tiễn tố tụng hiện nay còn có sự vênh nhau rất lớn. Để thấy rõ điều này, chúng ta có thể cùng nhau nhìn lại một vụ án điển hình mà Luật sư Trần Đình Triển đã tham gia để có thể thấy được thực tế đáng buồn trên.

Trong vụ án “Hiệu trưởng mua dâm” xảy ra tại Hà Giang, Luật sư Trần Đình Triển tham gia bào chữa cho hai bị cáo Nguyễn Thị Hằng và Nguyễn Thị Thanh Thúy. Diễn biến vụ án này có thể được tóm tắt như sau:

Vụ án “Hiệu trưởng mua dâm”  được công an huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang tiến hành điều tra và khởi tố vào đầu tháng 09/2009. Theo đó, ngày 7/9 cơ quan điều tra công an Vị Xuyên đã ký quyết định khởi tố bị can Sầm Đức Xương (nguyên hiệu trưởng trường PTTH Việt Lâm, huyện Vị Xuyên) có hành vi mua bán dâm trẻ vị thành niên; ngày 8/9/2009 cơ quan điều tra tiếp tục ra quyết định khởi tố bị can Nguyễn Thúy Hằng, Nguyễn Thị Thanh Thúy về tội môi giới mại dâm.

Ngày 06/11/2009, Tòa án nhân dân huyện Vị Xuyên đã mở phiên xử kín xét xử các bị cáo Sầm Đức Xương, Nguyễn Thị Hằng và Nguyễn Thị Thanh Thúy. Tại bản án sơ thẩm số 27/HSST, TAND huyện Vị Xuyên tuyên án bị cáo Sầm Đức Xương 10 năm 6 tháng tù giam; bị cáo Nguyễn Thị Hằng 06 năm tù, bị cáo Nguyễn Thị Thanh Thúy 05 năm tù. Tuy nhiên, cho rằng cơ quan điều tra bỏ lọt tội phạm cũng như cơ quan tố tụng vị phạm thủ tục, trình tự tố tụng, cả ba bị can đều làm đơn kháng án.

Ngày 13/11/2010, Cơ quan điều tra công an tỉnh Hà Giang đã hoàn thành bản kết luận điều tra số 57/KLĐT (PC44) về vụ án Mội giới mại dâm và mua dâm người chưa thành niên.

Ngày 16/12/2010, VKS ND tỉnh Hà Giang đã có quyết định số 83/KSĐT truy tố ra trước TAND tỉnh Hà Giang để xét xử các bị can Nguyễn Thúy Hằng, Nguyễn Thị Thanh Thúy về tội môi giới mại dâm; bị cáo Sầm Đức Xương tội mua dâm trẻ vị thành niên.

Ngày 3/1/2011, Tòa án nhân dân mở phiên xử kín truy tố các bị cáo Sầm Đức Xương, Nguyễn Thị Hằng, Nguyễn Thị Thanh Thúy với các tội danh Môi giới mại dâm và mua dâm người chưa thành niên. Hội đồng xét xử  đã tuyên phạt ông Xương 9 năm tù giam. Bản án phúc thẩm này được tuyên thấp hơn 18 tháng so với bản án sơ thẩm lần 1 đã bị tuyên hủy. Hai bị cáo Hằng và Thúy đã 5 lần môi giới mại dâm giúp ông Xương. Với hành vi này, Hằng bị tuyên phạt 36 tháng  tù, Thúy 30 tháng tù. Tuy nhiên, hai bị cáo này được cho hưởng án treo.

Sau khi có đơn kháng cáo của bị cáo Sầm Đức Xương, ngày 28/6/2011, Tòa án nhân dân tối cao đã mở phiên tòa Giám đốc thẩm. Tòa đã bác đơn kháng cáo của bị cáo Sầm Đức Xương và tuyên y án sơ thẩm.

Vụ án “Hiệu trưởng mua dâm” xảy ra tại Hà Giang là một vụ án nhạy cảm, gây rất nhiều bức xúc trong dư luận cả nước thời gian đó. Cũng có thể nói, Vụ án này cũng ghi đậm dấu ấn của Trần Đình Triển. Dấu ấn của ông được thể hiện đặc biệt rõ nét tại phiên xét xử của ngày làm việc thứ ba (ngày 29/1). Với phần tranh luận của mình, Luật sư Trần Đình Triển (bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Thanh Thúy) đã đưa  những luận cứ về việc các văn bản có vi phạm nghiêm trọng tố tụng.



Sầm Đức Xương bị dẫn giải ra toà

Đồng quan điểm với hai luật sư Vương Lỷ (bào chữa cho bị cáo Sầm Đức Xương) và Nguyễn Văn Tú (bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Hằng), luật sư Triển khẳng định có việc bỏ lọt tội của các cá nhân liên quan trong vụ án, có sự bất bình đẳng trước pháp luật. Điển hình là việc ngày 4-9-2009 có đơn tố cáo về hành vi phạm tội của các bị cáo thì sau đó 1 ngày cơ quan công an đã bắt khẩn cấp hai bị cáo Hằng và Thúy mà chưa có sự điều tra, xác minh. Trong khi đó, hai bị cáo có đơn thư tố cáo danh sách người mua dâm nhưng những người trong danh sách này sao vẫn chưa xử lý?

Thứ hai, việc truy tố hai bị cáo Hằng và Thúy về tội môi giới mại dâm là hoàn toàn oan sai. Ông Triển viện dẫn điều luật nói người dẫn dắt, dụ dỗ người mại dâm thì người mại dâm phải có mục đích sinh sống bằng việc làm đó. Tuy nhiên ở đây các bị cáo không có động cơ, những người đến với ông Xương đều để được thầy giúp đỡ, thầy cho đồng nào thì cho chứ không phải kiếm tiền.

Ngoài ra, phải xem xét xử lý bị cáo Xương về tội giao cấu với người chưa thành niên vì ở đây không có thỏa thuận mua bán. Trong trường hợp HĐXX làm rõ việc ông Xương cưỡng ép thì đó phải là tội cưỡng dâm chứ không phải mua dâm người chưa thành niên. Ông Triển cho rằng hồ sơ vụ án nhiều phần bị giả tạo và chứng minh bằng việc đưa ra các bản cung không có chữ ký cuối các tờ khai, phần giấy trắng kết thúc bản cung không được gạch chéo theo quy định. Ông Triển thắc mắc với công tố viên: chỉ trong 1 giờ 25 phút, điều tra viên viết được 3 tờ cung, tổng cộng 12 mặt giấy có hợp lý hay không? Liệu có ai có thể viết được với tốc độ như vậy không?

Ngoài ra, việc Kiểm sát viên được phân công kiểm sát điều tra vào ngày 8-9-2009 nhưng từ 7-9-2009 đã ra văn bản thực hiện quyền của Kiểm sát viên là vi phạm các quy định về tố tụng.

Căn cứ thứ hai để ông Triển khẳng định hồ sơ vụ án bị làm giả là việc Luật sư Vương Lỷ đưa ra bản giám định của bị hại Hoàng Thị T. (trú tại thôn Đông Cáp, thị trấn Vị Xuyên, Hà Giang) thực chất lại là người khác, trú tại thôn khác, xã khác của huyện Vị Xuyên, Hà Giang. Do đó, phiên tòa cũng chưa làm rõ được bị hại Hoàng Thị T. là ai. Thứ ba, chữ ký giám hộ của ông Nùng Văn S. (bố đẻ bị hại Nùng Thị N.) không đúng người ký vì ông S. không biết chữ, chỉ biết viết tên mình.

Đối đáp với lập luận của luật sư Trần Đình Triển, công tố viên bác bỏ hoàn toàn các nội dung bào chữa. Về chỗ nhầm lẫn giữa bản giám định về tên tuổi, địa chỉ của bị hại T., công tố viên tại tòa cho rằng đó là sơ suất do đánh máy. Về chữ ký, chữ viết của người giám hộ không đúng của ông S., công tố viên cho rằng nhìn bằng mắt thường có sự giống nhau nên có thể chấp nhận. Về quyết định phân công kiểm sát viên muộn 1 ngày, công tố viên cho rằng do kiểm sát viên “sốt sắng” thực hiện công việc của mình nên không có gì sai.

Trước những đối đáp này của công tố viên, Luật sư Triển đứng lên “chia buồn” các cơ quan bảo vệ pháp luật của tỉnh Hà Giang. Ông Triển cho rằng việc chấp nhận những vi phạm như vậy sẽ xảy ra rất nhiều vụ án oan sai tại địa phương.

Sau khi trình bày xong phần bào chữa, Luật sư Trần Đình Triển đề nghị hủy án sơ thẩm, trả hồ sơ điều tra lại từ đầu, đề nghị HĐXX tuyên Thúy và Hằng không phạm tội môi giới mại dâm, tuyên trả tự do ngay cho bị cáo tại tòa. Đồng thời, cần khởi tố vụ án cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án; khởi tố vụ án giao cấu với người chưa thành niên theo điều 115 BLHS đối với các cá nhân có tên trong bản “danh sách đen” được các bị cáo tố cáo trước tòa.

Sau khi bản án sơ thẩm bị hủy, trả lại để điều tra từ đầu, gia đình Hằng và Thúy đã từ Hà Giang xuống Hà Nội mời luật sư tiếp tục bảo vệ miễn phí cho bị can này. Luật sư Trần Đình Triển đồng ý, đã làm các thủ tục và đã được cấp giấy chứng nhận bào chữa. Tuy nhiên, sau đó hơn 1 tuần, Luật sư Trần Đình Triển nhận được văn bản của PC16 Công an tỉnh Hà Giang thông báo: Ngày 12/6/2010, bị can Hằng đã có đơn từ chối mời luật sư. Ngày 13/6/2010, bị can Thúy cũng có yêu cầu không cần luật sư bào chữa. LS Trần Đình Triển sau đó có gọi điện hỏi lại là tại sao ông đã có chứng nhận bào chữa giai đoạn này, khi các bị cáo có nguyện vọng mà các cơ quan điều tra không thông báo bằng văn bản cho ông để ông lên gặp các bị cáo, ba mặt một lời nhưng ông đã không nhận được một câu trả lời nào từ phía cơ quan điều tra.

Còn theo bà Thơm (mẹ bị can Thúy) cho biết, trước đó, cơ quan điều tra Công an tỉnh Hà Giang có gọi điện cho thân nhân của hai cháu đến gặp Thúy, Hằng và có đề cập đến việc không đồng ý mời luật sự vì mời luật sư “tội sẽ nặng thêm”. Sau đó, cơ quan điều tra đã nói với mẹ của Thúy là Thúy đã đủ 18 tuổi và đã ký vào giấy đề nghị không mời luật sư. Không đồng tình với việc này và thấy có điều gì không rõ ràng, bà Thơm đã có đơn tố cáo về vụ việc.

Phản ứng về những hoạt động nêu trên của cơ quan cảnh sát điều tra, Luật sư Trần Đình Triển đã khẳng khái “Về phần tôi, tôi khẳng định làm đến cùng kể cả việc phải làm rõ có hay không việc cơ quan điều tra khống chế các bị can từ chối mời luật sư”.

Trước thái độ cứng rắn và cũng có lẽ bản kiến nghị “danh sách đen” của ông đã “chỉ mặt đọc tên” một số những nhân vật nhạy cảm của tỉnh Hà Giang mà trong thời gian này Trần Đình Triển đã nhận được lời đe dọa với nội dung: “đường từ Hà Giang về Hà Nội chỉ có một con đường duy nhất”. Tuy nhiên, lời đe dọa này không hề làm ông nao núng, sợ hãi mà trái lại ông đã đáp trả một cách hết sức đanh thép rằng: “đúng là có một con đường duy nhất, nhưng tôi có 80 triệu con đường trong lòng dân, cho nên chả có gì ngại”. Một câu trả lời ngắn gọn, đanh thép đủ làm ấm lòng những người luôn tin tưởng vào công lý và khiến chúng ta thêm nể phục ông hơn.

Việc vi phạm tố tụng trong vụ án này không chỉ dừng lại ở đó mà nó còn kéo dài tới tận phiên tòa sơ thẩm được Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang mở vào sáng ngày 10/3/2011. Khi mở phiên xét xử này, dư luận đã đặt nhiều nghi vấn xung quanh vụ án “mua dâm người chưa thành niên” và “môi giới mại dâm” xảy ra tại Hà Giang bởi có quá  nhiều chi tiết chưa được làm rõ xung quanh vụ án, những vi phạm tố tụng trong quá trình điều tra xét hỏi đối với các bị cáo. Tại phiên xét xử này, TAND tỉnh Hà Giang lại quyết định tiến hành xử kín và hai bị cáo Thúy và Hằng lại không có luật sư tham gia bào chữa cũng như không có người giám hộ tại tòa. Về việc này Luật sư Triển cho rằng: “Trong phiên xét xử trước, tòa nói rằng, các cháu Thúy, Hằng đang ở tuổi vị thành niên nên phải xử kín để giữ cho các cháu nhưng trong quá trình tố tụng. Các cháu giờ đã trên 18 tuổi do đó gạt quyền mời luật sư của các cháu, gạt luôn việc giám hộ, tham gia phiên tòa của mẹ các cháu, đây là vi phạm pháp luật. Mâu thuẫn ở chỗ là trong lúc xử lại nói các cháu đang trong độ tuổi vị thành niên để áp dụng xử kín”…

Khép lại vụ án “Hiệu trưởng mua dâm” có thể thấy được một thực tế đáng buồn trong thực tiễn tố tụng tại Việt Nam và càng thấy tầm quan trọng phải có luật sư tham gia tại các phiên tòa như thế nào. Pháp luật đã có nhiều quy định nhằm tạo sự thông thoáng cho hoạt động của luật sư, tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn có những trở ngại từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm làm giảm vai trò của luật sư và hậu quả của việc luật sư bị hạn chế trong quá trình tham gia tố tụng thì ai cũng có thể biết đó là việc nhiều quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng không phản ánh được sự thật khách quan và dân tới oan sai. Do đó, thiết nghĩ muốn thực hiện thành công tiến trình cải cách tư pháp để xây dựng một nền tư pháp vững mạnh như đã nêu trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI thì các cơ quan pháp luật cần phải có những biện pháp mạnh nhằm sớm loại bỏ tình trạng trên khỏi thực tiễn tố tụng.

Với một luật sư như Trần Đình Triển, hành nghề không chỉ đơn thuần để có thu nhập cho bản thân, cho văn phòng mà còn với mục tiêu cao cả là góp phần mang lại công bằng cho xã hội, đóng góp những tri thức cho sự nghiệp chung của đất nước, bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ độc lập chủ quyền của đất nước, bảo vệ lẽ phải, bảo vệ nhân dân mà không sợ bất cứ một thế lực nào cả thì quả là một luật sư có tâm và có cả tầm. Xã hội Việt Nam hiện nay cần nhiều hơn nữa những con người như ông.



  Trao đổi chuyên môn với các đồng nghiệp trẻ tại cuộc hội thảo “bỏ túi” tại Đoàn luật sư Hà Nội.

Một xã hội dân chủ, tiến bộ là một xã hội có lực lượng phản biện xã hội (luật sư, báo chí, truyền thông…) phát triển. Trong giai đoạn mà Đảng và Nhà nước ta đang đẩy mạnh việc phòng chống tham nhũng như giai đoạn hiện nay thì càng cần phải phát huy vai trò của những lực lượng trên. Vì vậy, những con người dám nói, dám làm, dám đấu tranh như Trần Đình Triển cần phải được khuyến khích, bảo vệ và chỉ có như vậy mới khuyến khích được nhiều người dân mạnh dạn, tích cực tham gia cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng. Từ đó góp phần chung vào việc xây dựng một đất nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
                                                                                           
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------


Các bài viết thuộc tác quyền của Văn phòng luật sư Trương Anh Tú, mọi hình thức sao chép phải được sự chấp thuận của Văn phòng luật sư Trương Anh Tú, mọi hình thức sao chép trái phép là vi phạm pháp luật và bị xử lý theo quy định về quyền tác giả.

Hết./.

 

Theo Website: luatsutruonganhtu.com

 

[Trở về] [Đầu trang]In bài viết Gửi cho bạn bè

 

Các tin mới khác:
» Tội phạm qua góc nhìn của tác giả “Người của giang hồ” (05.01.2013)
» Nhét ma túy vào ví chồng rồi báo công an đến bắt (21.05.2013)
» Kỹ năng của luật sư tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự (02.08.2014)
» Luật sư bị làm khó (02.08.2014)

Các tin khác:
» Những vụ án nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam (16.11.2012)
» Bí thư Đà Nẵng "truy" Giám đốc Sở (07.07.2012)
» Nhân vụ Tiên Lãng bàn về công vụ (09.02.2012)
» Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông và tình bạn thuỷ chung Hồ Chí Minh - Lôdơbi (10.01.2012)
» NỮ NHÀ VĂN MỸ VÀ VỤ ÁN NGUYỄN ÁI QUỐC Ở HỒNG KÔNG (10.01.2012)
» Vị nữ bác sỹ già và 21 lần được gặp Hồ Chủ tịch (10.01.2012)
» Theo dấu chân Người 100 năm trước (kỳ 1) (10.01.2012)
» Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông và cuộc hội ngộ 30 năm sau (10.01.2012)
» Ý nghĩa đường: FRANCIS HENRY LOSEBY F.H. Loseby (10.01.2012)
» XEM LẠI VỤ ÁN HỒNG KÔNG XÉT XỬ NGUYỄN ÁI QUỐC, NGHĨ ĐẾN HIỆN TÌNH XÉT XỬ TÒA ÁN VIỆT NAM HIỆN NAY (10.01.2012)

Quảng cáo