Bài đọc nhiều nhất
Liên kết
Kinh tế

NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005 VÀ LUẬT THƯƠNG MẠI NĂM 2005 VỀ HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

Thứ sáu, 30.12.2011 17:12
Bộ luật Dân sự (BLDS), Luật Thương mại (LTM) của nước CHXHCN Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005

Bộ luật Dân sự (BLDS), Luật Thương mại (LTM) của nước CHXHCN Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2006. So với BLDS năm 1995, LTM năm 1997 và Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế (PLHĐKT), BLDS năm 2005 có nhiều quy định mới, tiến bộ về điều chỉnh pháp luật đối với hợp đồng nói chung và hợp đồng trong hoạt động kinh doanh nói riêng. Việc nghiên cứu làm rõ những tư tưởng và nội dung mới của pháp luật về hợp đồng có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động nghề nghiệp của các chức danh tư pháp. Phần viết dưới đây sẽ giới thiệu những điểm mới cơ bản của BLDS năm 2005 và LTM năm 2005 so với PLHĐKT có liên quan trực tiếp tới việc ký kết và thực hiện hợp đồng phục vụ cho nhu cầu kinh doanh của các doanh nghiệp.

1. Thống nhất điều chỉnh pháp luật đối với hợp đồng trong hoạt động kinh doanh

Tuy quan hệ hợp đồng được hình thành trên cơ sở bình đẳng, thoả thuận nhưng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong hợp đồng, của người thứ ba ngoài quan hệ hợp đồng và lợi ích công cộng, Nhà nước phải ban hành các quy định để thiết lập trật tự ký kết và thực hiện hợp đồng trong hoạt động kinh doanh. Pháp luật về hợp đồng trong hoạt động kinh doanh là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc được Nhà nước thừa nhận điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh từ việc ký kết và thực hiện hợp đồng phục vụ hoạt động kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận. Trước ngày 01/01/2006, pháp luật về hợp đồng trong hoạt động kinh doanh được phân chia thành hai lĩnh vực riêng biệt: PLHĐKT điều chỉnh các quan hệ hợp đồng được coi là HĐKT;* BLDS năm 1995 điều chỉnh các quan hệ hợp đồng được coi là HĐDS. Từ ngày 01/01/2006, BLDS năm 2005 đã thống nhất điều chỉnh pháp luật đối với mọi quan hệ hợp đồng; mọi loại hợp đồng, dù được ký kết giữa các nhà kinh doanh với nhau để phục vụ mục đích kinh doanh thu lợi nhuận hay được ký giữa các cá nhân với nhau để phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng đều chịu sự điều chỉnh chung của BLDS năm 2005.

BLDS năm 2005 chứa đựng các quy định mang tính nguyên tắc chung về hợp đồng như: Bản chất và các nguyên tắc của hợp đồng; điều kiện có hiệu lực của hợp đồng và các trường hợp hợp đồng vô hiệu; điều kiện, thủ tục giao kết hợp đồng; đại diện và uỷ quyền ký kết hợp đồng; các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng; thực hiện hợp đồng; trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; sửa đổi, bổ sung, chuyển giao quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng, chấm dứt, thanh lý hợp đồng... Ngoài các quy định mang tính nguyên tắc chung về mọi loại hợp đồng, BLDS năm 2005 còn quy định riêng về một số hợp đồng dân sự thông dụng như: hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng trao đổi tài sản, hợp đồng tặng cho tài sản, hợp đồng vay tài sản, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng mượn tài sản, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng vận chuyển, hợp đồng gia công, hợp đồng gửi giữ tài sản, hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng uỷ quyền...

Bên cạnh những quy định chung về mọi loại hợp đồng trong BLDS năm 2005, trong từng lĩnh vực kinh tế, Nhà nước còn ban hành nhiều quy định riêng về từng loại hợp đồng cụ thể. Có thể tìm thấy những quy định riêng này trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như LTM, Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Bộ luật Hàng hải Việt Nam, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam, Luật Giao thông đường thuỷ nội địa, Luật Đường sắt Việt Nam... Các quy định riêng về hợp đồng thường đề cập tới điều kiện các bên cần đáp ứng khi tham gia một quan hệ hợp đồng cụ thể; các quyền và nghĩa vụ của từng bên trong quan hệ hợp đồng; trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng; thủ tục khiếu nại đối với vi phạm hợp đồng...

Một quan hệ hợp đồng trong hoạt động kinh doanh có thể đồng thời chịu sự tác động của các quy định chung về hợp đồng trong BLDS năm 2005 và các quy định riêng trong các văn bản pháp luật chuyên ngành. Theo nguyên tắc luật chuyên ngành thay thế cho luật chung (lex specialis derogat lex generali) mà các quy định riêng trong các văn bản pháp luật chuyên ngành bao giờ cũng được ưu tiên áp dụng trước so với các quy định chung trong BLDS. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 1 BLDS năm 2005: “BLDS quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền, nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động” và khoản 3 Điều 4 LTM năm 2005: “Hoạt động thương mại không được quy định trong Luật Thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định của BLDS”.

Như vậy, pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng trong hoạt động kinh doanh của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay gồm hai bộ phận hợp thành: các quy định chung về hợp đồng trong BLDS và các quy định riêng về từng loại hợp đồng trong các văn bản pháp luật chuyên ngành. Các quy định riêng về hợp đồng trong các văn bản pháp luật chuyên ngành vừa mang tính chất bổ sung, vừa mang tính chất thay thế cho các quy định chung về hợp đồng trong BLDS. Trường hợp cùng một vấn đề nhưng được quy định khác nhau giữa quy định chung và quy định chuyên ngành thì quy định mang tính chuyên ngành được ưu tiên áp dụng. Nếu không có quy định chuyên ngành thì áp dụng theo quy định chung.*

2. Quy định việc áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại

Khác với các văn bản pháp luật trước đây, LTM năm 2005 quy định rõ về nguyên tắc áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại, pháp luật và tập quán thương mại trong việc điều chỉnh quan hệ hợp đồng. LTM năm 2005 là văn bản pháp luật đầu tiên của Việt Nam đề cập tới thói quen trong hoạt động thương mại và nguyên tắc áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại. Khoản 3 Điều 3 LTM năm 2005 quy định: “Thói quen trong hoạt động thương mại là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng được hình thành và lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài giữa các bên, được các bên mặc nhiên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng thương mại”. Còn theo Điều 12 thì trừ trường hợp có thoả thuận khác, các bên được coi là mặc nhiên áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại đã được thiết lập giữa các bên đó mà các bên đã biết hoặc phải biết nhưng không được trái với quy định của pháp luật. Như vậy, trường hợp các bên ký kết hợp đồng không thoả thuận cụ thể thì có thể áp dụng theo thói quen trong hoạt động thương mại đã hình thành giữa các bên.

3. Về hình thức của hợp đồng

So với PLHĐKT thì BLDS năm 2005 có ba điểm mới liên quan đến hình thức của hợp đồng. Một là, BLDS năm 2005 không bắt buộc mọi hợp đồng trong hoạt động kinh doanh phải ký kết dưới hình thức văn bản. Theo quy định tại Điều 401 BLDS năm 2005 thì HĐDS có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể nếu pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết dưới một hình thức nhất định. Hai là, BLDS năm 2005 chính thức thừa nhận các thông điệp dữ liệu cũng được coi là văn bản hợp đồng. Ba là, BLDS năm 2005 chỉ coi hình thức hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng khi pháp luật có quy định rõ về điều này (khoản 2 Điều 122 BLDS 2005). Các cơ quan có thẩm quyền chỉ được tuyên bố hợp đồng vô hiệu do vi phạm về hình thức khi pháp luật quy định rõ ràng rằng hợp đồng có hiệu lực khi được ký kết dưới một hình thức nhất định. Trước đây, do BLDS năm 1995 quy định hình thức của hợp đồng là một trong bốn điều kiện có hiệu lực của hợp đồng (Điều 131 BLDS năm 1995) nên hợp đồng được ký kết không tuân thủ hình thức luật định có thể bị coi là vô hiệu.

4. Xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu

Về nguyên tắc, hợp đồng trong hoạt động kinh doanh bị vô hiệu sẽ không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên từ thời điểm ký kết, bởi vậy, dù hợp đồng đã được thực hiện một phần hoặc đã thực hiện xong thì vẫn bị xử lý về tài sản. Việc xử lý về tài sản được thực hiện theo nguyên tắc sau: các bên có nghĩa vụ hoàn trả cho nhau tất cả tài sản đã nhận được từ việc thực hiện hợp đồng, trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì phải trả bằng tiền, nếu tài sản đó không bị tịch thu theo quy định của pháp luật; thu nhập bất hợp pháp phải nộp vào ngân sách Nhà nước. Trước đây, PLHĐKT không xem xét việc bên có lỗi làm hợp đồng vô hiệu phải bồi thường các thiệt hại phát sinh cho bên không có lỗi mà thiệt hại phát sinh cho bên nào bên đó tự chịu. Theo quy định của BLDS năm 2005 thì bên nào có lỗi phải bồi thường các thiệt hại phát sinh cho bên kia; nếu cả hai bên cùng có lỗi làm hợp đồng vô hiệu thì thiệt hại của bên nào, bên đó tự chịu.*

5. Vấn đề uỷ quyền ký kết hợp đồng

Trước đây PLHĐKT và Nghị định số 17/HĐBT ngày 16/01/1990 hướng dẫn thi hành PLHĐKT có nhiều quy định khắt khe trong việc uỷ quyền ký kết HĐKT. Thứ nhất, những hợp đồng kinh tế được ký bằng công văn, tài liệu giao dịch (ký kết gián tiếp); những HĐKT mà pháp luật quy định phải đăng ký không được ký theo uỷ quyền, các hợp đồng này phải do người đại diện theo pháp luật của các bên trực tiếp ký. Thứ hai, người được uỷ quyền ký kết hợp đồng kinh tế không được uỷ quyền lại cho người khác ký hợp đồng (kể cả khi được người uỷ quyền đồng ý). Do đó, việc uỷ quyền ký kết hợp đồng trong các doanh nghiệp được cấu thành bởi nhiều đơn vị trực thuộc như các ngân hàng thương mại, các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, các doanh nghiệp bưu chính, viễn thông, các doanh nghiệp kinh doanh điện lực... gặp nhiều trở ngại.

Khác với PLHĐKT, BLDS năm 2005 không quy định những trường hợp nào không được uỷ quyền để ký kết hợp đồng. Như vậy, trong mọi trường hợp, kể cả hợp đồng được ký qua cách gián tiếp hay các hợp đồng theo quy định phải đăng ký đều có thể ký theo uỷ quyền. Đặc biệt, BLDS năm 2005 thừa nhận tính hợp pháp của quan hệ uỷ quyền lại. Điều 583 BLDS năm 2005 quy định: “Bên được uỷ quyền chỉ được uỷ quyền lại cho người thứ ba, nếu được bên uỷ quyền đồng ý hoặc pháp luật có quy định”. Tuy vậy, việc uỷ quyền lại chỉ hợp lệ khi đáp ứng được các điều kiện sau: (i) Việc uỷ quyền lại phải được bên uỷ quyền đồng ý hoặc pháp luật có quy định; (ii) Hình thức hợp đồng uỷ quyền lại cũng phải phù hợp với hình thức hợp đồng uỷ quyền ban đầu và (iii) Việc uỷ quyền lại không được vượt quá phạm vi uỷ quyền ban đầu.

6. Về việc ký kết hợp đồng theo mẫu

PLHĐKT hoàn toàn không quy định gì về việc ký hợp đồng theo mẫu. ở Việt Nam hiện nay việc sử dụng các hợp đồng mẫu là khá phổ biến, nhất là đối với các doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ đại trà cho rất nhiều khách hàng, ví dụ, các doanh nghiệp cung ứng điện, nước, dịch vụ bưu chính - viễn thông, bảo hiểm, ngân hàng. Cần phân biệt ký hợp đồng theo mẫu với việc sử dụng hợp đồng mẫu để đơn giản hoá thủ tục đàm phán và ký kết hợp đồng. Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng gồm những điều khoản do một bên đưa ra theo mẫu để bên kia trả lời trong một thời gian hợp lý; nếu bên được đề nghị trả lời chấp nhận thì coi như chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng theo mẫu mà bên đề nghị đã đưa ra. Việc ký hợp đồng theo mẫu có nguy cơ tạo ra sự bất bình đẳng giữa các bên trong quan hệ hợp đồng và làm sai lệch bản chất của hợp đồng là sự thoả thuận trên cơ sở tự nguyện, tự do ý chí của các bên giao kết. Chính vì vậy, pháp luật phải can thiệp với những mức độ nhất định để bảo vệ quyền lợi của bên không đưa ra mẫu hợp đồng.

Pháp luật của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam đã có những quy định khá cụ thể để kiểm soát việc ký kết và thực hiện các hợp đồng theo mẫu để hạn chế sự bất bình đẳng có thể xảy ra đối với người tiêu dùng khi họ tham gia loại hợp đồng này. BLDS năm 2005 quy định điều kiện ký kết hợp đồng theo mẫu của một bên. Theo quy định tại Điều 407 BLDS năm 2005 thì trong trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó; trong trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thoả thuận khác.********************** ************ *********

7. Trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng

Khi hợp đồng bị vi phạm thì bên vi phạm hợp đồng phải chịu trách nhiệm tài sản. PLHĐKT quy định hai hình thức trách nhiệm tài sản là bồi thường thiệt hại và phạt hợp đồng. Các quy định về bồi thường thiệt hại trong BLDS năm 2005 về cơ bản không có gì khác so với PLHĐKT. Riêng về phạt hợp đồng thì BLDS năm 2005 có nhiều quy định mới so với BLDS năm 1995, LTM năm 1997 và PLHĐKT. Thứ nhất, về căn cứ áp dụng chế tài phạt hợp đồng: theo quy định của BLDS năm 2005 và LTM năm 2005 thì bên bị vi phạm chỉ được áp dụng chế tài phạt hợp đồng khi các bên có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định; nếu hợp đồng hoặc pháp luật không quy định về phạt hợp đồng thì không được áp dụng phạt. Trước đây PLHĐKT không bắt buộc các bên ký kết hợp đồng phải thoả thuận trước về việc áp dụng chế tài phạt hợp đồng. Thứ hai, về mức phạt hợp đồng: BLDS năm 1995 khống chế mức phạt hợp đồng tối đa không quá 5% giá trị nghĩa vụ bị vi phạm; PLHĐKT quy định khung phạt từ 2 đến 12% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm còn LTM năm 1997 khống chế mức phạt hợp đồng tối đa không quá 5% giá trị nghĩa vụ bị vi phạm. Theo quy định của BLDS năm 2005 thì mức phạt hợp đồng theo sự thoả thuận của các bên và không bị khống chế mức tối đa, trừ trường hợp pháp luật quy định khác. LTM năm 2005 tiếp tục khống chế mức phạt tối đa không quá 8% giá trị nghĩa vụ bị vi phạm. Thứ ba, về áp dụng phối hợp chế tài phạt hợp đồng và bồi thường thiệt hại: PLHĐKT không quy định rõ việc áp dụng phối hợp phạt hợp đồng và bồi thường thiệt hại. BLDS năm 2005 quy định bên bị vi phạm hợp đồng chỉ được yêu cầu đồng thời áp dụng phạt hợp đồng và bồi thường thiệt hại nếu hợp đồng quy định rõ về điều này. Khác với LTM năm 1997, LTM năm 2005 cho phép áp dụng đồng thời phạt hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngay cả khi hợp đồng không quy định rõ việc áp dụng đồng thời hai chế tài này. Theo Điều 307 LTM năm 2005 thì trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp LTM có quy định khác.

8. Về thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng

BLDS năm 1995, PLHĐKT không quy định thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng, bởi vậy, thời hiệu khởi kiện các tranh chấp hợp đồng được áp dụng theo quy định của pháp luật tố tụng. Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế quy định thời hiệu khởi kiện tranh chấp kinh tế là 6 tháng, kể từ ngày phát sinh tranh chấp, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. BLDS năm 1995,* Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự đều không quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, bởi vậy đối với các tranh chấp hợp đồng dân sự thì người khởi kiện có thể khởi kiện bất kỳ lúc nào. Từ ngày 01/01/2005, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế hết hiệu lực. Thay thế cho hai Pháp lệnh này là Bộ luật Tố tụng dân sự. Bộ luật Tố tụng dân sự quy định thời hiệu khởi kiện chung cho các tranh chấp dân sự, kinh doanh - thương mại là 2 năm, kể từ ngày các tổ chức, cá nhân có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Liên quan đến thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng thì Điều 427 BLDS năm 2005, Điều 169 LTM quy định giống nhau và giống Bộ luật Tố tụng dân sự: “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm’’. Như vậy, BLDS năm 2005 đã quy định thời hiệu khởi kiện thống nhất cho mọi tranh chấp hợp đồng, kể cả tranh chấp phát sinh từ hợp đồng trong hoạt động kinh doanh.

9. Các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng trong hoạt động kinh doanh

So với PLHĐKT, BLDS năm 1995 thì BLDS năm 2005 có nhiều quy định mới về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Có thể kể đến một số* điểm mới nổi bật như sau: Thứ nhất, BLDS năm 2005 không coi phạt hợp đồng là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự mà coi phạt hợp đồng là một chế tài tiền tệ bên cạnh đó chính thức thừa nhận tín chấp là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và phân biệt rõ tín chấp với bảo lãnh. Thứ hai, BLDS năm 2005 mở rộng phạm vi bảo đảm và vật bảo đảm, theo đó, các nghĩa vụ bảo đảm có thể là nghĩa vụ hiện tại, nghĩa vụ sẽ phát sinh trong tương lai hoặc nghĩa vụ có điều kiện; vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự có thể là vật hiện có hoặc được hình thành trong tương lai. Thứ ba, BLDS năm 2005 cụ thể hoá việc một tài sản có thể được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự và trật tự xử lý tài sản bảo đảm cho việc thực hiện nhiều nghĩa vụ với việc xác định cụ thể về thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm. Thứ tư, BLDS năm 2005 thay đổi căn cứ phân định cầm cố tài sản và thế chấp tài sản, theo đó cầm cố tài sản hay thế chấp tài sản không phụ thuộc tài sản bảo đảm là động sản hay bất động sản như quy định trong BLDS năm 1995 mà phụ thuộc vào vị trí tài sản bảo đảm do bên nhận bảo đảm giữ hay do bên có tài sản bảo đảm giữ, theo đó, nếu tài sản bảo đảm do bên nhận bảo đảm giữ thì là cầm cố còn nếu tài sản bảo đảm do bên có tài sản bảo đảm giữ thì đó là thế chấp. Thứ năm, BLDS thừa nhận tính độc lập giữa hợp đồng bảo đảm tài sản với hợp đồng làm phát sinh nghĩa vụ dân sự được bảo đảm. Điều 410 BLDS năm 2005 quy định rõ ràng rằng: “Sự vô hiệu của hợp đồng chính làm chấm dứt hợp đồng phụ, trừ trường hợp các bên có thoả thuận hợp đồng phụ được thay thế hợp đồng chính. Quy định này không áp dụng đối với các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Sự vô hiệu của hợp đồng phụ không làm chấm dứt hợp đồng chính, trừ trường hợp các bên thoả thuận hợp đồng phụ là một phần không thể tách rời của hợp đồng chính”.

10. Về căn cứ hủy bỏ, đình chỉ hợp đồng

Hủy bỏ toàn bộ hợp đồng là việc bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiện tất cả các nghĩa vụ hợp đồng đối với toàn bộ hợp đồng. Hủy bỏ một phần hợp đồng là việc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ hợp đồng, các phần còn lại trong hợp đồng vẫn còn hiệu lực. Việc huỷ hợp đồng thường được áp dụng khi hợp đồng chưa được thực hiện. Trong trường hợp hợp đồng đang thực hiện thì áp dụng đình chỉ việc thực hiện hợp đồng. Sau khi huỷ bỏ hợp đồng, hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thoả thuận trong hợp đồng, trừ thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ sau khi huỷ bỏ hợp đồng. Các bên có quyền đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện phần nghĩa vụ của mình theo hợp đồng; nếu các bên đều có nghĩa vụ hoàn trả thì nghĩa vụ của họ phải được thực hiện đồng thời; trường hợp không thể hoàn trả bằng chính lợi ích đã nhận thì bên có nghĩa vụ phải hoàn trả bằng tiền. Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Đình chỉ thực hiện hợp đồng là việc một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện nghĩa vụ hợp đồng khi hợp đồng đó đang được thực hiện. Khi hợp đồng bị đình chỉ thực hiện thì hợp đồng chấm dứt từ thời điểm một bên nhận được thông báo đình chỉ. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ đối ứng. Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Việc huỷ hợp đồng và đình chỉ hợp đồng được áp dụng khi có các căn cứ sau đây: (i) Có hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để hủy bỏ hợp đồng. Ví dụ, khi ký kết hợp đồng các bên thoả thuận và quy định rõ trong hợp đồng các trường hợp huỷ hợp đồng hoặc đình chỉ hợp đồng. Khi xảy ra các sự kiện đó thì một bên được yêu cầu huỷ hoặc đình chỉ hợp đồng; (ii) Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng. Căn cứ này mới được quy định trong Luật thương mại năm 2005. Vi phạm cơ bản ở đây được hiểu là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng. Đây là quy định khá tiến bộ của LTM năm 2005 so với BLDS và LTM năm 1997. Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng căn cứ đình chỉ hợp đồng này đã được quy định trong PLHĐKT.

Ngoài những vấn đề đã đề cập ở phần trên thì BLDS 2005, LTM năm 2005* còn nhiều quy định mới khác liên quan đến thủ tục giao kết hợp đồng, khiếu nại đối với hành vi vi phạm hợp đồng, các chế tài áp dụng cho hành vi vi phạm hợp đồng... Các nội dung mới này đã và đang góp phần tạo dựng cơ sở pháp lý thuận lợi, tháo gỡ những khó khăn gặp phải trong thực tiễn ký kết, thực hiện hợp đồng nói chung và hợp đồng phục vụ hoạt động kinh doanh của mà các nhà kinh doanh nói riêng.

<br>Nguon: Tap Chi Nghe Luat - Hoc Vien Tu Phap

[Trở về] [Đầu trang]In bài viết Gửi cho bạn bè

 

Các tin khác:
» Doanh nghiệp lớn lên cùng đất nước (04.09.2011)
» Thủ tục khởi kiện vụ án kinh tế - kinh doanh thương mại. (30.06.2011)
» HÒA GIẢI TRONG THƯƠNG MẠI VÀ PHÁT TRIỂN PHƯƠNG THỨC HÒA GIẢI TRONG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM (30.06.2011)

Quảng cáo