Bài đọc nhiều nhất
Liên kết
Dân sự

Xác định hành vi chiếm đoạt trong quan hệ vay mượn, chơi hụi

Thứ sáu, 30.12.2011 23:41
Tình trạng vay mượn tiền, vàng, chơi hụi dưới nhiều hình thức (hụi ngày, hụi tuần, hụi tháng...), chịu lãi suất rất cao diễn ra khá phổ biến trong nhiều tầng lớp nhân dân, đặc biệt là bộ phận tiểu thương

Hiểu theo nghĩa tốt đẹp thì quan hệ vay mượn tiền bạc, tài sản hay chơi hụi là hình thức giúp đỡ lẫn nhau trong lúc khó khăn thiếu thốn, hoặc là hình thức góp vốn để làm ăn, sinh sống. Đương nhiên có vay có trả và người vay, người hốt hụi còn có thể phải chịu một khoản lãi suất nhất định phù hợp với các quy định của pháp luật và trên cơ sở tự nguyện. Đó chính là biểu hiện cụ thể của nghĩa cử đoàn kết, tương thân tương ái Ềlá lành đùm lá ráchỂ. Tuy nhiên, trong thời gian qua, các quan hệ nêu trên có nhiều biến tướng tiêu cực, khó kiểm soát nổi. Tình trạng vay mượn tiền, vàng, chơi hụi dưới nhiều hình thức (hụi ngày, hụi tuần, hụi tháng...), chịu lãi suất rất cao diễn ra khá phổ biến trong nhiều tầng lớp nhân dân, đặc biệt là bộ phận tiểu thương. Kết cục là các Ềcon nợỂ không có khả năng trả nợ, khả năng đóng Hụi chết nên chây ì không trả hoặc có trường hợp phải bỏ trốn. Các tranh chấp loại này có thể được giải quyết bằng một vụ án dân sự hoặc bằng một vụ án hình sự theo thủ tục khác biệt. Vậy, trường hợp nào giải quyết theo thủ tục tố tụng hình sự? Cách thức xác định hành vi chiếm đoạt để định lượng giá trị tài sản bị chiếm đoạt dựa vào những căn cứa nào?Trên thực tế, muốn xác định một hành vi phạm tội cần phải dựa vào tính chất nguy hiểm, hậu quả thiệt hại mà hành vi gây ra cho xã hội và ý thức chủ quan của người phạm tội. Để tránh trường hợp hình sự hóa một quan hệ dân sự, các cơ quan tiến hành tố tụng cần phải chứng minh được một cách rõ ràng và cụ thể: người vay nợ, người chơi hụi chây ì, cố ý không chịu trả nợ, không chịu đóng hụi chết nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác, mặc dù có đủ điều kiện để trả nợ, thì mới được coi là phạm tội hình sự. Hành vi chiếm đoạt tài sản là việc cố ý chuyển dịch tài sản thuộc sở hữu của người khác thành thành tài sản thuộc sở hữu của mình một cách bất hợp pháp. ý thức chiếm đoạt của can phạm có thể phát sinh trước, trong hoặc sau khi đã chiếm giữ được tài sản. Điều này luôn có ý nghĩa quyết định về việc xác định trách nhiệm hình sự hay trách nhiệm dân sự và là căn cứ then chốt để các cơ quan tiến hành tố tụng định tội, lượng hình đối với người phạm tội.Trong qúa trình thụ lý, giải quyết các loại án về vay mượn, chơi hụi rồi chiếm đoạt tài sản một cách bất hợp pháp, các cơ quan tiến hành tố tụng thường quan tâm làm rõ một số điểm sau đây:* Đối với loại án vay mượn nợ: Thông thường quá trình vay mượn diễn ra tự nguyện, theo thỏa thuận của đôi bên và có vẻ là một quan hệ dân sự thuần túy. Sự kiện pháp lý hình sự chỉ phát sinh khi đến hạn trả nợ, người mắc nợ không trả nợ một cách cố ý. Nếu trường hợp người mắc nợ có khả năng thanh toán nợ nhưng cố tình không trả, việc xem xét trách nhiệm hình sự không cần phải bàn cãi nhiều. Nhưng trường hợp đến hạn trả nợ, người mắc nợ tuyên bố vỡ nợ, không có khả năng thanh toán, có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không?Theo chúng tôi, trường hợp công dân vay mượn nhau, chỉ coi là chiếm đoạt nợ vay khi đến hạn mà không thanh toán được nợ, không lý giải được đã tiêu dùng tiền, vàng vào việc gì, tức là không chứng minh được đầu ra, đầu vào một cách hợp lý và minh bạch. Những trường hợp người mắc nợ giải trình được đầu ra, đầu vào cân đối, hợp pháp, không chênh lệch hoặc chênh lệch không đáng kể thì xem như không có dấu hiệu chiếm đoạt. Thực tiễn xét xử, những khoản đầu ra như sau có thể được chấp nhận, không xem xét trách nhiệm hình sự.Thỏa thuận vay với lãi suất cao, không đầu tư hoặc đầu tư không có hiệu quả, phải dùng tiền vay để trả lãi suất.Vay vốn để đầu tư sản xuất, kinh doanh nhưng rủi ro, thiên tai, làm ăn thua lỗ, do bị người khác chiếm dụng vốn hoặc vì những lý do khách quan khác dẫn đến vỡ nợ, không còn khả năng thanh toán.Mua sắm tài sản phục vụ sản xuất hoặc tiêu dùng.Đối với những khoản tiền vay sử dụng không đúng mục đích chính đáng như chơi số đề, cờ bạc, buôn bán kinh doanh bất hợp pháp... đều không được chấp nhận và có thể xác định đó là tài sản chiếm đoạt trong trường hợp bị cáo không có khả năng thanh toán.Ví dụ 1: A cho B vay 30.000.000đ, lãi suất 10%/tháng, thỏa thuận vay từ tháng 1/1995 đến tháng 4/1996 phải trả toàn bộ nợ gốc, phần lãi phải trả hàng tháng không để đến tháng sau. Trả được 5 tháng (15 triệu) thì B vỡ nợ bỏ trốn. Tháng 10/1995 A có đơn đề nghị khởi tố B cho cơ quan điều tra. Kết quả điều tra có cơ sở chứng minh rằng: Sau khi vay của A 30.000.000đ, B cho C vay lại 10.000.000đ với lãi suất 15%/tháng đến nay C không trả lãi và nợ cho B. Số tiền còn lại B dùng để hút hít, buôn bán hàng cấm rồi bị bắt, bởi vậy B mới hết tiền để trả cho A.Dấu hiệu chiếm đoạt đã rõ, vấn đề đặt ra là ở chỗ xác định mức độ chiếm đoạt là bao nhiêu để xem xét trách nhiệm hình sự đối với B. Như lập luận ở phần trên, chúng tôi thống nhất cách tính như sau:30.000.000đ(Gốc vay)-{15.000.000đ +10.000.000đ(cho vay lại)} = 5.000.000đ Như vậy, về trách nhiệm hình sự xác định B chiếm đoạt của A 5.000.000đ nhưng về trách nhiệm dân sự xác định B phải trả cho A nguyên số nợ 30.000.000đ là vì khoản tiền lãi đã trả 15.000.000đ do hai bên tự nguyện thỏa thuận và trả trước thời điểm 01/7/1996. số tiền C nợ B 10.000.000đ là một quan hệ dân sự khác không thể khấu trừ qua cho A được.Ví dụ 2: M vay của N 50.000.000đ đầu tư mua xe tải nhẹ đưa vào hoạt động kinh doanh. Qúa trình vận tải hàng hóa không may xe bị tai nạn giao thông hư hại nặng không có khả năng phục hồi. Từ đó, M có dấu hiệu vỡ nợ vì không trả được nợ cho N đúng thời hạn cam kết. Sau nhiều lần đòi nợ chỉ nhận được những lời hứa suông, N có đơn yêu cầu khởi tố gửi cơ quan điều tra và M đã bị truy tố trước pháp luật về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân. Thận trọng xem xét trường hợp này, chúng tôi cho rằng không thể xử lý M theo thủ tục tố tụng hình sự được, bởi lẽ M không trả nợ được N là do rủi ro khách quan chứ không có ý thức chiếm đoạt tài sản của N.* Đối với loại án do chơi hụi thường gặp là: Các hình thức chiếm đoạt chủ cái hụi (chủ hụi) chiếm đoạt của các nhà con (hụi viên) hoặc các nhà con chiếm đoạt của nhau thông qua chủ cái hụi.Bị coi là chiếm đoạt khi chủ hụi nhận tiền của các hụi viên đầy đủ nhưng không giao lại cho người được hốt hoặc khi hụi viên đã nhận đủ tiền do chủ giao nhưng sau đó không thực hiện nghĩa vụ đóng hụi chết. Cả hai trường hợp nêu trên khi nhận được tiền thì bỏ trốn hoặc tuy không bỏ trốn nhưng có tính chây ì không trả nợ hụi mặc dù họ có đủ điều kiện để trả hoặc khi con nợ không còn khả năng trả nợ nhưng không chứng minh được Ềđầu raỂ một cách chính đáng và hợp pháp.Thực tế hiện nay có nhiều người cho rằng sau khi Thông tư 04/TTLN ngày 8 tháng 8 năm 1992 của liên ngành TANDTC, VKSNDTC hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về nợ hụi không còn hiệu lực thì Tòa án không thụ lý giải quyết những tranh chấp thuộc loại này. Theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân Tối cao, các khiếu kiện về hụi phát sinh sau ngày 01/7/1996 các Tòa án không thụ lý, nếu đã thụ lý thì ra quyết định đình chỉ. Tuy nhiên, theo chúng tôi hướng dẫn này cần phải được hiểu là chỉ những trường hợp khởi kiện dân sự thì mới tạm thời không thụ lý giải quyết; những trường hợp chơi hụi rồi bị chiếm đoạt, tức là có dấu hiệu vi phạm luật Hình sự thì Tòa án có quyền chủ động ra quyết định khởi tố vụ án hình sự rồi chuyển hồ sơ sang cơ quan Điều tra; trường hợp cơ quan Điều tra có kết luận yêu cầu truy tố, xét xử đối với loại án này thì đương nhiên Tòa án phải thụ lý giải quyết.Một vấn đề phát sinh là dùng phương pháp nào để xác định giá trị tài sản chiếm đoạt để quy kết trách nhiệm hình sự và trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Nguyên tắc chung, khi giải quyết các tranh chấp về nợ hụi, Tòa án chỉ buộc người nợ phải trả cho chủ nợ một phần tiền vốn đã bỏ ra (nợ gốc) mà không buộc người nợ phải trả cho chủ nợ một khoản lãi nào khác (nếu không có sự thỏa thuận đúng pháp luật). Thực tế, có một số trường hợp phổ biến như sau:- Chủ cái hụi chiếm đoạt của các con hụi: Ví dụ: Lê Thị N làm chủ cái hụi hàng tháng loại 500.000đ/phần/tháng, có 10 người tham gia. Kỳ thứ 5 bà Y bỏ lãi 50.000đ, số tiền hốt được là 4.280.000đ, kỳ 6 bà X bỏ lãi 80.000đ, số tiền hốt là 4.180.000đ. Bà N đã thu đủ số tiền trên của các con hụi nhưng lại không giao lại cho bà X, Y mà giữ lại nhằm chiếm đoạt. Khi đưa vụ án ra xét xử, các con hụi bị chiếm đoạt yêu cầu bà N phải trả đủ cho họ tổng cộng là 9.000.000đ (bao gồm cả lãi suất bỏ hụi) vận dụng nguyên tắc nêu trên, Tòa án sẽ quyết định buộc N phải trả cho họ tổng số là 8.430.000đ là số tiền thực tế bị cáo đã chiếm đoạt, số lãi phát sinh không thừa nhận.- Các con hụi chiếm đoạt lẫn nhau: Nguyễn Thị T tham gia chơi hụi do bà R làm chủ cái hụi loại 100.000đ/phần/tháng. Có 30 suất hụi, T hốt vào kỳ thứ 5 bỏ lãi 20.000đ, số tiền hốt được T tiêu xài cá nhân và không chịu đóng hụi chết, thực tế là T đã Ềgiật hụiỂ như vậy, Tòa án xác định số tiền bị cáo chiếm đoạt của các con hụi là: (30-5). 80.000đ=2.000.000đ (do 4 phần hụi người khác hốt trước và một phần của T không phải đóng ở kỳ 5).Có nhiều trường hợp con hụi sau khi giật hụi thì nhà cái phải đóng thế để các con hụi khác hốt. Vấn đề là giữa hụi sống (những người chưa hốt) và hụi chết (người đã hốt hụi, phải chịu một khoản bỏ lãi) sẽ có sự chênh lệch. Số tiền chênh lệch này không được pháp luật thừa nhận nên khi giải quyết, Tòa án không xem xét, mặc dù chủ cái hụi có thiệt hại thực tế khoản "đóng thế" đó. Đương nhiên sẽ có nhiều thắc mắc khiếu nại về số tiền nói trên nhưng Tòa án cho rằng đó là sự tự nguyện không ép buộc của chủ hụi trong việc đóng thế, do đó không giải quyết những trường hợp như vậy. Để tính toán một dây hụi khoảng 50 đến 60 người tham gia, cán bộ thụ lý giải quyết vụ án phải tốn rất nhiều thời gian lvà công sức. Trong cùng một dây hụi khi tính toán cụ thể phải thống kê chi tiết của từng cá nhân về mệnh giá phần hụi số lần đóng, số tiền ngày tháng đóng, lãi suất bỏ hụi... lại phải xem xét từng trường hợp cụ thể về hụi áp cái, hụi sống (của người chưa hốt hụi), hụi chết (của người đã hốt hụi). Điều đó gây khó khăn không nhỏ cho những người tiến hành tố tụng. Các chứng cứ của các đương sự đưa ra thường là giấy viết tay hoặc dựa vào trí nhớ để khai nên có nhiều mâu thuẫn, thiếu rõ ràng, đòi hỏi cán bộ Tòa án phải thật kiên trì, thận trọng, tỉ mỉ khi giải quyết án loại này.Về lâu dài, Tòa án nhân dân Tối cao và liên ngành cấp trên cần tổ chức những cuộc hội thảo chuyên đề về công tác giải quyết án hình sự có nội dung xuất phát từ việc chơi hụi. Nếu có thể, hội thảo nên mời những địa phương có nhiều án phát sinh từ loại quan hệ nêu trên để phổ biến kinh nghiệm, nhằm làm cho việc giải quyết các vụ án về hụi được thực hiện thống nhất và dễ dàng hơn.<br>Nguon: Tap Chi Nghe Luat - Hoc Vien Tu Phap

[Trở về] [Đầu trang]In bài viết Gửi cho bạn bè

 

Các tin mới khác:
» Đừng đùa các “hợp đồng ủy quyền” (30.12.2011)
» LUẬT TỤC TRONG ĐỜI SỐNG ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ... (30.12.2011)
» Bàn về điều kiện hình thức của giao dịch theo quy định Bộ Luật Dân sự 2005 (22.05.2012)
» 'Vụ án Vườn Đào' sắp thành kỳ án (07.11.2012)

Các tin khác:
» GIẢI ĐÁP NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ TỐ TỤNG DÂN SỰ (30.12.2011)
» Vướng mắc từ việc áp dụng các quy định về định giá tài sản trong Bộ luật Tố tụng Dân sự (30.12.2011)
» Xót lòng hai mẹ con lấy chung một chồng (07.12.2011)
» Mẫu đơn xin ly hôn (30.06.2011)
» HƯỚNG DẪN KHỞI KIỆN VỤ ÁN LY HÔN (30.06.2011)
» Mẫu đơn khởi kiện (30.06.2011)
» HƯỚNG DẪN KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ (30.06.2011)
» Trớ trêu 2 anh em chung... vợ (22.05.2011)

Quảng cáo