Bài đọc nhiều nhất
Liên kết
Dân sự

GIẢI ĐÁP NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ TỐ TỤNG DÂN SỰ

Thứ sáu, 30.12.2011 23:34
GIẢI ĐÁP NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ TỐ TỤNG DÂN SỰ

1. Một số tình huống cụ thể khi thụ lý giải quyết vụ án dân sự

Thứ nhất: Khi triệu tập đương sự lấy lời khai, nếu đương sự không đến Tòa thì Tòa án phải áp dụng các biện pháp khác để xác minh chứng cứ (lấy lời khai chỉ là một trong những biện pháp). Trong trường hợp này, Tòa án vẫn phải giải quyết vụ án bình thường.

Thứ hai: khi triệu tập đương sự để hòa giải, nếu đương sự vẫn tiếp tục vắng mặt sau khi được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, tòa án phải giải quyết như sau:

- Nếu là nguyên đơn: đình chỉ giải quyết vụ án (khoản 2 Điều 59; điểm e khoản 1 Điều 192 );

- Nếu là bị đơn: lập biên bản không hòa giải được theo khoản 1 Điều 182 và quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều 179 ;

- Nếu là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Đình chỉ giải quyết yêu cầu của người này, các yêu cầu của đương sự khác được giải quyết bình thường theo quy định của pháp luật (áp dụng khoản 2 Điều 61, khoản 2 Điều 59, khoản 1 điểm e Điều 192)

- Nếu là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập mà việc vắng mặt người này không ảnh hưởng đến việc hòa giải của các đương sự khác thì Tòa án hòa giải bình thường, nếu ảnh hưởng đến việc hòa giải của các đương sự khác thì Tòa án phải đưa vụ án ra xét xử (Điều 184, khoản 3).

Thứ ba: Tại phiên tòa mà có đương sự vắng mặt thì áp dụng Điều 199, Điều 200, Điều 201, Điều 202.

Phần thủ tục đương sự vắng mặt nay xuất hiện thì cần phải hỏi lý do họ đến Tòa muộn. Nếu việc đến muộn có lý do chính đáng cho việc đến muộn và có yêu cầu thì Hội đồng xét xử tiến hành thủ tục hỏi đối với họ. Hội đồng xét xử tiến hành bình thường

2. Theo nghị quyết 01/2005/HĐTP hướng dẫn thi hành BLTTDS thì trường hợp Tòa án đang tiến hành giải quyết việc dân sự, nếu có tranh chấp thì Tòa án đình chỉ việc giải quyết việc dân sự theo quy định tại Điều 311, Điều 192, đồng thời hướng dẫn đương sự khởi kiện vụ án dân sự để Tòa án thụ lý giải quyết. Vậy, trường hợp nào thì Tòa án không chấp nhận đơn yêu cầu của đương sự theo điểm g, khoản 1 Điều 315.

Tại sao trường hợp trên Tòa án không áp dụng điểm g khoản 1 Điều 315 ra quyết định công nhận yêu cầu của đương sự vì có tranh chấp. Còn việc khởi kiện vụ án dân sự hay không là tùy vào ý chí của các đương sự?

Trả lời: Để có thể xác định một loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là việc dân sự, dấu hiệu đặc trưng và căn bản là loại việc này không có tranh chấp (phân biệt với loại việc cũng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là vụ án dân sự) theo Điều 1 BLTTDS.

Vì vậy, nếu có tranh chấp thì về hình thức, đó đã không còn là một việc dân sự. Ví dụ việc thuận tình ly hôn đòi hỏi đương sự phải thuận tình ly hôn, thỏa thuận được về quan hệ tài sản, thỏa thuận về quan hệ về nuôi con. Sau khi nộp đơn yêu cầu, đương sự lại không thống nhất được về tài sản hoặc về con thì loại việc này không được coi là việc thuận tình ly hôn (việc dân sự theo khoản 2 Điều 28), mà đó là yêu cầu có tranh chấp quan hệ tài sản, quan hệ về con (vụ án dân sự theo khoản 1 Điều 27).

Trường hợp áp dụng Điều 315 khoản 1 điểm g thì đây là trường hợp Tòa án đang giải quyết về nội dung, thấy yêu cầu không có cơ sở chấp nhận. Ví dụ yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi, nhưng quá trình giải quyết thấy không có đủ cơ sở xác định người mất năng lực hành vi thì Tòa án phải tuyên không chấp nhận đơn yêu cầu.

3. Nghị quyết 01/2005/HĐTP hướng dẫn cách viết số bản án, quyết định nhưng không hướng dẫn cách ghi số thụ lý của các vụ việc. Tại mẫu giấy chứng nhận người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự có ví dụ: Số…/2005/TLDS-ST.

Vậy chữ TL có phải là cách ghi số thụ lý vào sổ thụ lý không

Trả lời: Nghị quyết số 01 hướng dẫn cách viết số bản án mà không hướng dẫn cách ghi số thụ lý không có nghĩa là từ nay trong bản án, quyết định của Tòa án không ghi số thụ lý. Số thụ lý vẫn được ghi bình thường (khác số bản án).

Vấn đề bạn hỏi liên quan đến giấy chứng nhận người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đúng là cách ghi số thụ lý trong sổ thụ lý cũng như trong bản án. Lưu ý chữ viết tắt là “TLST-…”, chỗ “…” nếu là vụ dân sự sẽ ghi “DS”, không phải như cách ghi mà bạn đã trích ở trên.

4. Điều 164 có thể ủy quyền cho người đại diện viết đơn khởi kiện. Vậy xác định tư cách người tham gia tố tụng thế nào? nguyên đơn là người ủy quyền hay người được ủy quyền.

Trả lời:

- Nguyên đơn: vẫn là nguyên đơn (người ủy quyền)

- Người đại diện: vẫn là người đại diện (người được ủy quyền)

Tóm lại: không thể vì được ủy quyền làm đơn khởi kiện mà người được ủy quyền trở thành nguyên đơn trong vụ án.

5. Việc dân sự trong hôn nhân và gia đình có hòa giải không?

Trả lời: Về nguyên tắc, việc dân sự là những việc không có tranh chấp mà đó là yêu cầu Tòa án xem xét, công nhận một sự kiện pháp lý, ví dụ yêu cầu xác nhận công dân mất tích, yêu cầu hủy hôn nhân trái pháp luật… Do vậy, về căn bản là không đặt ra việc hòa giải đối với việc dân sự. Tuy nhiên trong trường hợp việc dân sự là một việc về hôn nhân và gia đình, nếu có hòa giải cũng không trái với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự vì theo tinh thần Điều 311, Điều 10 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án có quyền hòa giải, ví dụ việc thuận tình ly hôn.

Tuy nhiên, hiện tại việc thuận tình ly hôn có được tòa án hòa giải trong quá trình giải quyết vụ án hay không đang là vấn đề có nhiều ý kiến. Trong trường hợp cụ thể này cần đợi hướng dẫn của Tòa án tối cao hoặc các Tòa nên có văn bản trực tiếp đề nghị Tòa án tối cao hướng dẫn.

6. án phí trong việc dân sự?

Trả lời: Về nguyên tắc các quy định cụ thể về án phí, lệ phí như mức án phí, mức lệ phí, người phải chịu án phí, người phải chịu lệ phí… được quy định trong văn bản do Uỷ ban thường vụ quốc hội ban hành (Điều 134 Bộ luật tố tụng dân sự).

Vấn đề này, Điều 1, Mục IV, Nghị định số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn như sau: Đối với những việc dân sự mà theo quy định của pháp luật tố tụng trước đây được coi như vụ án dân sự, thì áp dụng theo mức án phí tương ứng với Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 về án phí, lệ phí Tòa án. Đối với các loại việc dân sự mà các văn bản quy phạm pháp luật có quy định mực lệ phí, thì thực hiện các quy định đó.

Trong thực tế, các Tòa án thụ lý và giải quyết các việc dân sự thường xem xét vận dụng quy định về mức án phí dân sự của loại án không có giá ngạch quy định trong Nghị định 70/CP, mức thu là 50.000 đồng.

<br>Nguon: Tap Chi Nghe Luat - Hoc Vien Tu Phap

[Trở về] [Đầu trang]In bài viết Gửi cho bạn bè

 

Các tin mới khác:
» Xác định hành vi chiếm đoạt trong quan hệ vay mượn, chơi hụi (30.12.2011)
» Đừng đùa các “hợp đồng ủy quyền” (30.12.2011)
» LUẬT TỤC TRONG ĐỜI SỐNG ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ... (30.12.2011)
» Bàn về điều kiện hình thức của giao dịch theo quy định Bộ Luật Dân sự 2005 (22.05.2012)
» 'Vụ án Vườn Đào' sắp thành kỳ án (07.11.2012)

Các tin khác:
» Vướng mắc từ việc áp dụng các quy định về định giá tài sản trong Bộ luật Tố tụng Dân sự (30.12.2011)
» Xót lòng hai mẹ con lấy chung một chồng (07.12.2011)
» Mẫu đơn xin ly hôn (30.06.2011)
» HƯỚNG DẪN KHỞI KIỆN VỤ ÁN LY HÔN (30.06.2011)
» Mẫu đơn khởi kiện (30.06.2011)
» HƯỚNG DẪN KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ (30.06.2011)
» Trớ trêu 2 anh em chung... vợ (22.05.2011)

Quảng cáo