Bài đọc nhiều nhất
Liên kết
Dân sự

Vướng mắc từ việc áp dụng các quy định về định giá tài sản trong Bộ luật Tố tụng Dân sự

Thứ sáu, 30.12.2011 23:27
Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, định giá tài sản là một trong những biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án nhằm giúp cho việc giải quyết vụ án được chính xác.

Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, định giá tài sản là một trong những biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án nhằm giúp cho việc giải quyết vụ án được chính xác. Trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp dân sự, rất nhiều vụ án cần phải tiến hành định giá tài sản nhưng các quy định về định giá tài sản trong Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) vẫn chưa thật sự đầy đủ, cụ thể. Vì vậy, trong các trường hợp cần thành lập hội đồng định giá, các cấp Tòa án gặp rất nhiều khó khăn cả về cơ sở pháp lý cũng như cách thức tổ chức thực hiện. Những sai sót trong lĩnh vực định giá cũng đã được Tòa án Nhân dân Tối cao tổng kết trong các báo cáo tổng kết của ngành Tòa án những năm 2005, 2006. Chẳng hạn, có Tòa án không định giá tài sản hoặc không lập hội đồng, tự Thẩm phán định giá tài sản hoặc chỉ hỏi ý kiến của cán bộ địa chính; có trường hợp có biên bản định giá nhưng ra phiên tòa, Hội đồng xét xử vẫn quyết định một giá khác (không có sự đồng ý của đương sự). Định giá không đúng thành phần, không mời đương sự tham gia, dù đã có hướng dẫn nhưng cán bộ Tòa án vẫn là thành viên hoặc chủ tịch Hội đồng định giá. Định giá không cụ thể, xác định tổng giá trị tài sản mà không nêu giá trị từng tài sản; có tài sản định giá, có tài sản không định giá mà không nêu rõ lý do trong biên bản và đương sự có đồng ý hay không. Có vụ Thẩm phán đi định giá, đương sự không cho định giá Tòa án không lập biên bản về việc đó và cứ đưa vụ án ra xét xử… Từ thực tiễn đó, trong phạm vi bài viết này chúng tôi xin trao đổi một số vấn đề vướng mắc từ việc áp dụng các quy định về định giá tài sản trong Bộ luật Tố tụng Dân sự.

1. Xác định hệ quả pháp lý đối với trường hợp đương sự không yêu cầu định giá tài sản đang tranh chấp.

Điều 92 BLTTDS xác định các trường hợp Tòa án ra quyết định định giá tài sản đang tranh chấp:

- Theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự;

- Các bên thỏa thuận theo mức giá thấp nhằm mục đích trốn thuế hoặc giảm mức đóng án phí

Như vậy, theo tinh thần của điều luật, Tòa án ra quyết định định giá tài sản đang tranh chấp trong các trường hợp hoặc là theo yêu cầu của một bên đương sự vì lý do các bên không thỏa thuận được về giá của tài sản đang tranh chấp hoặc là trong trường hợp các bên đương sự thỏa thuận về giá của tài sản đang tranh chấp, nhưng có căn cứ rõ ràng chứng minh rằng mức giá mà các bên đương sự thỏa thuận thấp hơn giá thị trường tại địa phương nơi có tài sản đang tranh chấp hoặc thấp hơn khung giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định đối với tài sản cùng loại, nhằm mục đích trốn thuế hoặc giảm mức đóng án phí. Việc thực hiện quy định này cũng không nằm ngoài các điều kiện thu thập chứng cứ của Tòa án khi áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 85 BLTTDS. Quy định này được thực hiện khi hội đủ cả các điều kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 85 BLTTDS:

- Đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ;

- Đương sự phải có yêu cầu Tòa án mới tiến hành thu thập chứng cứ.

Việc quy định trách nhiệm của Tòa án thu thập chứng cứ được thu hẹp lại trong những trường hợp nhất định với những điều kiện nhất định tại khoản 2 Điều 85 BLTTDS là một quy định tiến bộ so với các Pháp lệnh tố tụng dân sự trước đây. Tòa án tiến hành biện pháp định giá tài sản để thu thập chứng cứ theo quy định tại Điều 92 và khoản 2 Điều 85 BLTTDS còn tùy thuộc vào từng vụ việc cụ thể, xuất phát từ chính yêu cầu của đương sự và tình trạng chứng cứ có trong hồ sơ. Nếu hồ sơ không đủ chứng cứ, đương sự có yêu cầu thu thập mà Tòa án không tiến hành các biện pháp thu thập thì thiếu sót này thuộc về trách nhiệm của Tòa án. Vấn đề khó khăn chính là chưa có hướng dẫn cụ thể thế nào là trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ. Việc đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố khách quan, chủ quan, trình độ hiểu biết, thiện trí của đương sự cũng như sự hợp tác của các bên giữ chứng cứ. Nhiều trường hợp đương sự có thể thu thập được chứng cứ nhưng do không hiểu biết nên không thu thập được hoặc hoàn toàn có khả năng thu thập nhưng nại ra trước Tòa án là không có khả năng thu thập để đẩy trách nhiệm thu thập chứng cứ cho Tòa án.

Thực tiễn xét xử đã có những tranh chấp giữa Tòa án và đương sự vì Tòa án cho rằng đương sự có thể tự mình cung cấp được chứng cứ, đương sự lại cho rằng mình không có khả năng thu thập để cung cấp chứng cứ. Như vậy, nếu đương sự viết trong đơn đề nghị Tòa án thu thập chứng cứ vì lý do không tự thu thập chứng cứ thì trách nhiệm thu thập chứng cứ đã chuyển sang cho Tòa án hay chưa. Chúng tôi cho rằng, để quy định này có ý nghĩa thực tiễn thì chỉ trong trường hợp đương sự chứng minh một cách rõ ràng họ đã làm hết sức mình nhưng do những khó khăn khách quan, ví dụ: cá nhân, cơ quan tổ chức... đang giữ tài liệu chứng cứ không cung cấp cho họ. Vì vậy, họ yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ thì khi đó trách nhiệm thu thập chứng cứ mới chuyển cho Tòa án.

ở khía cạnh khác, khi áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 85 và Điều 92 BLTTDS có nhiều trường hợp đương sự không thu thập được chứng cứ nhưng họ không yêu cầu thì giải quyết như thế nào vẫn là vấn đề bỏ ngỏ trong luật, đặc biệt với những chứng cứ quan trọng buộc phải có mới đủ cơ sở để Tòa án giải quyết vụ án. Ví dụ: trong việc giải quyết tranh hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà hợp đồng bị vô hiệu về nội dung, để có cơ sở giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu thì kết quả định giá tài sản được coi là một trong những cơ sở quan trọng. Với những trường hợp này, đương sự không yêu cầu và cũng không rơi vào trường hợp quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 92 BLTTDS khiến cho nhiều Thẩm phán đã rất lúng túng.

Chúng tôi cho rằng, quy định này đề cao trách nhiệm của đương sự trong việc thu thập chứng cứ, thực hiện nghĩa vụ chứng minh của đương sự và hạn chế việc thu thập chứng cứ của Tòa án. Vì vậy, phải xác định rõ và thu hẹp phạm vi Tòa án thu thập chứng cứ theo nguyên tắc: Khi đương sự không yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ, Tòa án không thu thập chứng cứ dù những chứng cứ thuộc phạm vi thu thập của Tòa án, ví dụ: đương sự không yêu cầu Tòa án định giá thì Tòa án không tiến hành định giá mà có thể áp dụng các quy định khác của BLTTDS để giải quyết, chẳng hạn quy định tại khoản 8 Điều 83 BLTTDS: “Kết quả định giá tài sản được coi là chứng cứ nếu việc định giá được tiến hành theo thủ tục do pháp luật quy định hoặc văn bản do chuyên gia về giá cung cấp theo quy định tại khoản 1 Điều 83 BLTTDS”. Như vậy, khi không tiến hành được các thủ tục định giá theo quy định tại Điều 92 BLTTDS vì đương sự không yêu cầu, Tòa án có thể làm công văn đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cung cấp về giá làm cơ sở để giải quyết tranh chấp.

2. Vấn đề xác định giá

Liên quan tới chi phí định giá, qua tìm hiểu thực tế, nhiều Tòa án địa phương hiện nay rất lúng túng, đặc biệt là khi tính mức bồi dưỡng cho các thành viên là bao nhiêu, chi phí cho mỗi buổi làm việc, đi lại, thủ tục... Trong trường hợp yêu cầu cơ quan chức năng định giá thì khoản lệ phí này do cơ quan được trưng cầu định giá quy định, nhưng hiện nay cũng chưa có quy định về mức lệ phí. Do đó, có những trường hợp cơ quan được yêu cầu đòi tính theo giá ngạch của tài sản đem định giá (tài sản có giá trị văn hoá, kinh tế...) mà Tòa án không thể buộc đương sự phải nộp khoản tiền đó. Ngoài vấn đề nêu trên thì vấn đề xác định giá khi định giá cũng như về nguyên tắc định giá gặp không ít khó khăn và phức tạp. Hiện nay khi định giá quyền sử dụng đất, các Tòa án vẫn áp dụng theo hướng dẫn tại Công văn số 92/2000/KHXX (21/7/2000) của Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn việc xác định giá quyền sử dụng đất: “Trong trường hợp các bên đương sự không thoả thuận được với nhau về việc xác định giá quyền sử dụng đất, thì giá quyền sử dụng đất được xác định theo giá thực tế chuyển nhượng tại địa phương nơi có đất đang tranh chấp đối với từng loại đất vào thời điểm xét xử sơ thẩm”. Theo chúng tôi, định giá theo thời giá là phù hợp, nhưng đáng tiếc hiện nay đang bị thả nổi, thông thoáng đến độ không có nguyên tắc và cách thức tổ chức phù hợp. Vấn đề là ở chỗ “giá thực tế chuyển nhượng tại địa phương là giá nào?”. Thường khi định giá bất động sản, Hội đồng định giá căn cứ vào khung giá đất (hoặc khung giá xây dựng) do UBND cấp tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương) quy định nhân với hệ số k, còn đối với động sản thì Hội đồng định giá căn cứ vào giá thị trường và tính giá trị sử dụng còn lại của tài sản. Ai cũng biết hệ số k được xác định căn cứ vào giá chuyển nhượng thực tế nhưng giá này biến động không ngừng, kết quả khảo sát chỉ có tính chất tham khảo. Thực tế, hệ số k để định giá nhà đất phù hợp với giá thị trường được xác định khá “ngẫu hứng”. Tuy nhiên cũng khó có được một thang bảng giá khách quan chung tại một thời điểm. Do vậy, không loại trừ hệ số k được xác định do tình cảm của các thành viên Hội đồng định giá đối với đương sự. Nếu không bị chi phối bởi tình cảm thì người định giá cũng dễ chủ quan trong nhận định. Thành viên này thì cho rằng giá thị trường đang cao, thành viên khác thì bảo giá đang giảm, có khi tính con số trung bình. Tất nhiên đương sự có quyền có ý kiến nhưng quyết định cuối cùng vẫn thuộc Hội đồng định giá. Mặt khác, BLTTDS cũng bỏ ngỏ quy định buộc cơ quan chức năng phải cử những chuyên gia có đủ trình độ chuyên môn tư vấn về giá tài sản, định giá nhà ở, máy móc thiết bị hiện đại hoặc các lĩnh vực chuyên sâu khác tương ứng với từng loại án... tham gia vào Hội đồng định giá. Vì vậy, khi Tòa án đề nghị các cơ quan đó cử người tham gia Hội đồng định giá, nhiều trường hợp không cử, hoặc có cử thì cũng không cử được những người có đủ nghiệp vụ, chuyên môn theo yêu cầu. Thực tế đang đòi hỏi một cơ chế định giá phù hợp và điều này cũng cần được cân nhắn và xem xét trong việc bổ sung các quy định cụ thể của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

3. Về quy định tại khoản 1, 2 Điều 92 BLTTDS

Theo quy định tại khoản 1 Điều 92 BLTTDS: “Tòa án ra quyết định định giá tài sản đang tranh chấp trong các trường hợp sau đây: a. Theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự; b. Các bên thỏa thuận theo mức giá thấp...” Vấn đề đặt ra là hiểu như thế nào về tài sản đang tranh chấp. Các tài sản không tranh chấp nhưng có liên quan thì có định giá không?

Ví dụ: A chuyển nhượng cho B diện tích đất 200m2 năm 2004, hợp đồng chuyển nhượng được lập thành văn bản nhưng không qua công chứng chứng thực. Sau khi nhận đất, B đã xây dựng nhà trên đất và A không có ý kiến phản đối. Tháng 9/2006 C (vợ A) làm đơn khởi kiện B ra Tòa yêu cầu B phải trả lại C quyền sử dụng đất nhận chuyển nhượng từ A. C cung cấp các chứng cứ chứng minh quyền sử dụng đất này thuộc về C và đề nghị Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa A và B. C làm đơn đề nghị Tòa án định giá, giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm xét xử sơ thẩm. Trong trường hợp này, các bên tranh chấp với nhau quyền sử dụng 200m2 đất và không liên quan gì đến ngôi nhà. Vậy khi định giá, Hội đồng định giá có tiến hành định giá giá trị căn nhà trên diện tích đất đang tranh chấp hay không? vấn đề băn khoăn này xuất phát chính từ quy định chưa rõ trong điều luật. Trường hợp này, nếu quan niệm cho rằng, đối tượng và phạm vi định giá chỉ trên cơ sở yêu cầu của đương sự thì không đảm bảo việc giải quyết khách quan vụ án. Với quy định của pháp luật dân sự, khi A định đoạt tài sản cho B mà không phải là tài sản của mình là cơ sở để xác định giao dịch này bị vô hiệu. Việc giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu các bên sẽ hoàn trả cho nhau tình trạng ban đầu, bên có lỗi gây thiệt hại thì phải chịu trách nhiệm bồi thường. Vì vậy, nếu không định giá căn nhà trên diện tích đất tranh chấp thì sẽ không đủ cơ sở để xác định thiệt hại và thiếu căn cứ để giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu.

Vì vậy, nên chăng có sự sửa đổi quy định tại khoản 1 Điều 92 BLTTDS theo hướng “Tòa án ra quyết định định giá tài sản đang tranh chấp và các tài sản có liên quan đến tài sản đang tranh chấp trong các trường hợp sau đây: a. Theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự; b. Các bên thỏa thuận theo mức giá thấp...”. Đồng thời bổ sung thêm quy định tại khoản 2 Điều 92 BLTTDS: “Các thành viên của Hội đồng định giá có trách nhiệm thực hiện việc định giá...” nhằm xúc tiến nhanh việc định giá, đồng thời phải có quy chế quy định trách nhiệm của từng thành viên liên quan trong quá trình thực hiện việc định giá tài sản có tranh chấp để thu thập chứng cứ chuẩn bị cho việc xét xử. Bên cạnh đó có thể nghiên cứu giao cho Trung tâm bán đấu giá tài sản ở địa phương đảm nhận luôn việc tổ chức định giá tài sản có tranh chấp theo yêu cầu của Tòa án. Đây là một trong những biện pháp để đảm bảo cho hoạt động thu thập chứng cứ được thuận lợi và có hiệu quả.

Một vướng mắc khác liên quan đến lĩnh vực định giá được bắt nguồn từ chính quy định tại khoản 2 Điều 92 BLTTDS: “…Trong trường hợp cần thiết, đại diện ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản định giá được mời chứng kiến việc định giá”. Việc áp dụng quy định này trong thực tế các Tòa án băn khoăn do không xác định được thế nào là “trường hợp cần thiết”. Vì vậy, có vụ án Tòa án mời ủy ban, có vụ án Tòa án không mời ủy ban. Điều này còn liên quan đến việc xác định tính hợp pháp của biên bản định giá khi đánh giá chứng cứ là biên bản định giá. Nếu không có chữ ký của đại diện ủy ban nhân dân trong biên bản định giá có bị coi là vi phạm thủ tục thu thập chứng cứ không? Vấn đề đặt ra, khi nào thì đại diện uỷ ban xã nơi có tài sản định giá được mời chứng kiến việc định giá tài sản? Bên cạnh đó, trường hợp tài sản chung được định giá cùng một thời điểm nhưng ở hai trung tâm định giá khác nhau, có giá khác nhau thì kết quả của trung tâm nào làm căn cứ xét xử. Trong trường hợp đương sự có khiếu nại về kết quả định giá của Hội đồng định giá thì Tòa án có buộc phải tiến hành định giá lại không? Nếu khi tiến hành định giá lại thì vẫn Hội đồng định giá đó tiến hành định giá hay phải thành lập Hội đồng định giá khác và Hội đồng định giá khác được thành lập ở cấp nào?

Chúng tôi kiến nghị tiếp tục hoàn thiện, bổ sung quy định về định giá tài sản trong BLTTDS theo hướng quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm của Hội đồng định giá, chi phí cho việc định giá và nguyên tắc xác định giá; mức chi phí trong từng trường hợp đương sự có yêu cầu định giá tài sản, việc yêu cầu định giá lại, định giá bổ sung, mức chi phí mà từng đương sự phải chịu sau khi xét xử. Để khắc phục các tình trạng trên chúng tôi cho rằng, cần có những quy định bổ sung trong BLTTDS tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng thống nhất việc định giá tài sản khi giải quyết các tranh chấp dân sự hiện nay.

<br>Nguon: Tap Chi Nghe Luat - Hoc Vien Tu Phap

[Trở về] [Đầu trang]In bài viết Gửi cho bạn bè

 

Các tin mới khác:
» GIẢI ĐÁP NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ TỐ TỤNG DÂN SỰ (30.12.2011)
» Xác định hành vi chiếm đoạt trong quan hệ vay mượn, chơi hụi (30.12.2011)
» Đừng đùa các “hợp đồng ủy quyền” (30.12.2011)
» LUẬT TỤC TRONG ĐỜI SỐNG ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ... (30.12.2011)
» Bàn về điều kiện hình thức của giao dịch theo quy định Bộ Luật Dân sự 2005 (22.05.2012)
» 'Vụ án Vườn Đào' sắp thành kỳ án (07.11.2012)

Các tin khác:
» Xót lòng hai mẹ con lấy chung một chồng (07.12.2011)
» Mẫu đơn xin ly hôn (30.06.2011)
» HƯỚNG DẪN KHỞI KIỆN VỤ ÁN LY HÔN (30.06.2011)
» Mẫu đơn khởi kiện (30.06.2011)
» HƯỚNG DẪN KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ (30.06.2011)
» Trớ trêu 2 anh em chung... vợ (22.05.2011)

Quảng cáo